Phân tích cổ phiếu GEE Quý 4/2026: Cho vay nội bộ bằng 37% vốn chủ
Nội dung bài14 phần
- Định giá cổ phiếu GEE: quy mô
- Lợi nhuận quý III đến từ đâu
- Cho vay công ty cùng tập đoàn
- Vay ngân hàng và lãi vay
- Dòng tiền kinh doanh
- Cổ đông và thanh khoản
- Khối ngoại và tự doanh
- So sánh cùng ngành
- Định giá theo P/E, P/B và DCF
- Thang giá tham chiếu
- Phân tích kỹ thuật
- Hỗ trợ - Kháng cự
- Fibonacci
- Xu hướng EMA
- RSI và động lượng
- Cổ tức và tăng vốn
- Lịch sự kiện cần theo dõi
- Kết luận
Định giá cổ phiếu GEE Quý 4/2026 bắt đầu từ khoản tiền công ty cho các công ty cùng tập đoàn vay. Cuối quý III/2026, dư nợ gốc là 3.275 tỷ đồng, bằng 36,8% vốn chủ sở hữu 8.910 tỷ, tăng 710 tỷ so với đầu năm, trong khi GEE đang vay ngân hàng 7.094 tỷ.
Lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ quý III là 774,4 tỷ đồng, bằng 44% cùng kỳ vì quý III/2025 có 1.473 tỷ lãi bán các khoản đầu tư. Loại khoản này ra, lợi nhuận trước thuế chín tháng 2026 tăng 32,0% và đã đạt 100,5% kế hoạch cả năm.
Giá đóng cửa phiên 30/10/2026 là 66.300 đồng, thấp hơn đỉnh đóng cửa 52 tuần 51,4% và cao hơn đáy 15,8%. Bài đọc lãi quý III, khoản cho vay nội bộ, vay ngân hàng và dòng tiền, rồi đến so sánh cùng ngành, định giá và đồ thị tuần.
Điểm chính
- Cho công ty cùng tập đoàn vay 3.275 tỷ đồng (gồm công ty mẹ 775 tỷ, Hạ tầng GELEX 1.415 tỷ, Đầu tư GELEX 995 tỷ), bằng 36,8% vốn chủ và 46,2% vay ngân hàng; lãi cho vay thu được chín tháng là 140,5 tỷ.
- Lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ quý III là 774,4 tỷ, thấp hơn cùng kỳ (1.744,0 tỷ) 55,6% và cao hơn quý II (709,9 tỷ) 9,1%; lợi nhuận trước thuế chín tháng 2.718 tỷ, tăng 32,0% sau khi loại 1.473 tỷ lãi bán đầu tư của năm trước.
- Doanh thu quý III tăng 50,1% lên 9.672 tỷ nhưng biên lãi gộp còn 14,6% so với 16,6% cùng kỳ; nguyên liệu chiếm 93,6% chi phí sản xuất chín tháng.
- Mua hàng từ công ty mẹ chín tháng là 5.183 tỷ (tăng 22,7%), bằng 23,0% giá vốn; cổ tức công bố cho công ty mẹ 1.181 tỷ.
- Giá 66.300 đồng ứng với P/E 16,4 lần, P/B 4,99 lần và ROE 32,5%, so với trung vị nhóm 5,8 lần, 0,63 lần và 15,1%; cả mười ba phép định giá đều thấp hơn giá, DCF cơ sở cho 51.182 đồng.

Định giá cổ phiếu GEE: quy mô
Công ty cổ phần Điện lực Gelex (GEE) niêm yết trên HOSE với 640,50 triệu cổ phiếu, vốn hoá theo giá 66.300 đồng là 42.465 tỷ đồng. GEE là công ty mẹ của nhóm thiết bị điện gồm CADIVI (dây cáp điện), THIBIDI, EMIC (công tơ điện) và MEE (máy biến áp truyền tải), theo hồ sơ công ty; công ty mẹ của GEE là Tập đoàn GELEX (GEX) với 75,96%.
Quý III/2026 doanh thu thuần 9.672 tỷ đồng, tăng 50,1% so với cùng kỳ và 1,6% so với quý II. Chín tháng doanh thu đạt 26.293 tỷ, tăng 44,2% và đã vượt cả năm 2025 (25.463 tỷ); so với kế hoạch cả năm 27.242 tỷ, mức hoàn thành là 96,5%, còn lợi nhuận trước thuế 2.718 tỷ đã bằng 100,5% kế hoạch 2.705 tỷ.
Thành phẩm chiếm 99,0% doanh thu quý III (9.576 trên 9.672 tỷ), và thuyết minh quý III không tách doanh thu theo dây cáp, máy biến áp hay công tơ. Số liệu có được cũng không nêu nguyên nhân doanh thu tăng 50%; điều đo được là nguyên liệu, vật liệu chiếm 93,6% chi phí sản xuất chín tháng (22.131 trên 23.656 tỷ), so với 90,8% cùng kỳ.

Lợi nhuận mẹ tăng từ 566 tỷ đồng năm 2021 lên 3.257 tỷ năm 2025, trong đó năm 2025 gồm khoản lãi bán đầu tư quý III. Chín tháng 2026 là 2.064 tỷ, bằng 63,4% cả năm 2025. EPS bốn quý hiện là 4.055 đồng và ROE bốn quý là 32,5%, tính trên vốn chủ cổ đông mẹ bình quân 7.987 tỷ.
Lợi nhuận quý III đến từ đâu

Biên lãi gộp quý III là 14,6%, so với 16,6% cùng kỳ và 14,4% quý II, nên lãi gộp tăng 32,1% (từ 1.069 tỷ lên 1.413 tỷ), chậm hơn doanh thu 50,1%. Chín tháng biên gộp là 14,4% so với 16,1%. Biên lợi nhuận hoạt động, tính bằng lãi gộp trừ chi phí bán hàng và quản lý rồi cộng lãi liên doanh, đạt 11,7% so với 11,6%.

Cầu nối từ quý II sang quý III cộng 63 tỷ đồng cho lợi nhuận trước thuế (từ 950 tỷ lên 1.013 tỷ). Lãi gộp cộng 46 tỷ (doanh thu 21 tỷ, biên 25 tỷ), lợi nhuận khác cộng 73 tỷ vì quý II có khoản âm 73 tỷ, còn chi phí tài chính trừ 52 tỷ và bán hàng, quản lý trừ 19 tỷ.

So với cùng kỳ, lợi nhuận trước thuế giảm 1.189 tỷ đồng (từ 2.202 tỷ xuống 1.013 tỷ). Thu nhập tài chính trừ 1.439 tỷ vì quý III/2025 có 1.473 tỷ lãi bán các khoản đầu tư, còn quý III/2026 không có khoản nào tương tự; doanh thu tăng cộng 535 tỷ, biên gộp giảm trừ 192 tỷ, chi phí tài chính trừ 139 tỷ và lãi liên doanh cộng 68 tỷ.
Chi phí tài chính quý III là 243 tỷ, so với 104 tỷ. Lãi vay là 122 tỷ (61 tỷ cùng kỳ), chiết khấu thanh toán và phí thư tín dụng 52 tỷ, dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh 33 tỷ, và chi phí nghiệp vụ LME hedging, tức phòng ngừa giá kim loại niêm yết trên sàn London, 22 tỷ.

Loại khoản lãi bán đầu tư, lợi nhuận trước thuế quý III/2025 là 729 tỷ đồng và quý III/2026 là 1.013 tỷ, tăng 38,9%. Chín tháng 2026 đạt 2.718 tỷ so với 2.059 tỷ, tăng 32,0%, khớp với con số 32% mà công ty nêu cho phần thiết bị điện. Số liệu có được không nêu tên khoản đầu tư đã bán năm 2025.
Cho vay công ty cùng tập đoàn

Cuối quý III GEE có 5.330 tỷ đồng đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, gồm tiền gửi có kỳ hạn 2.033 tỷ và 3.225 tỷ cho vay ngắn hạn. Theo thuyết minh bên liên quan, toàn bộ 3.225 tỷ là cho vay ba công ty trong tập đoàn và HEM, cộng thêm 50 tỷ cho vay dài hạn Năng lượng GELEX Ninh Thuận.
Tổng dư nợ gốc bên liên quan là 3.275 tỷ đồng, bằng 36,8% vốn chủ sở hữu 8.910 tỷ và 46,2% vay ngân hàng 7.094 tỷ, so với 2.565 tỷ đầu năm. Phần tăng 710 tỷ đến chủ yếu từ Hạ tầng GELEX, từ 700 tỷ lên 1.415 tỷ, còn dư nợ của công ty mẹ giảm từ 805 tỷ xuống 775 tỷ.

Trong chín tháng GEE cho vay thêm 3.796 tỷ đồng và thu hồi 3.086 tỷ, tức vòng quay nhanh: Đầu tư GELEX vay 1.376 tỷ và trả 1.351 tỷ, công ty mẹ vay 975 tỷ và trả 1.005 tỷ. Lãi cho vay thu được là 140,5 tỷ đồng, bằng 44,6% chi phí lãi vay ngân hàng chín tháng (314,7 tỷ). Cùng lúc, lãi cho vay chưa thu tính thêm 53 tỷ trong khoản phải thu.
Bên vay lớn nhất, Hạ tầng GELEX, là một công ty đang đầu tư mạnh: theo báo chí tài chính dẫn BCTC quý III của chính công ty này, vay và nợ thuê tài chính là 22.601 tỷ đồng, riêng 9 tháng đã góp 8.062 tỷ vào Hạ tầng Hàng không Masterise, nhà đầu tư dự án sân bay Gia Bình, và lợi nhuận cổ đông mẹ quý III âm 37 tỷ. Khoản GEE cho Hạ tầng GELEX vay là 1.415 tỷ, bằng 6,3% số vay của công ty này.

Quan hệ với công ty mẹ không chỉ là cho vay. Mua hàng hoá và dịch vụ từ Tập đoàn GELEX là 5.183 tỷ đồng trong chín tháng, tăng 22,7% so với 4.223 tỷ và bằng 23,0% giá vốn hàng bán (22.498 tỷ); phải trả công ty mẹ là 404 tỷ cuối quý III, so với 59 tỷ đầu năm. Số liệu có được không nêu loại hàng hoá mua.
Chiều ngược lại, doanh thu bán cho tất cả bên liên quan chỉ 59 tỷ đồng, tức 0,2% doanh thu. Cổ tức công bố cho công ty mẹ chín tháng là 1.181 tỷ đồng (1.344 tỷ cùng kỳ), trong đó 243 tỷ còn phải trả cuối quý III. Dòng tiền giữa hai công ty vì vậy đi cả hai hướng và khoản cho vay chỉ là một phần của nó.
Vay ngân hàng và lãi vay

Chi phí lãi vay quý III là 122,5 tỷ đồng, gấp 2,0 lần mức 60,9 tỷ cùng kỳ và tương đương quý II (122,7 tỷ). Chín tháng chi phí lãi vay là 314,7 tỷ, tăng 86,4% so với 168,8 tỷ, trong khi doanh thu tăng 44,2%.
Hệ số trả lãi, tính bằng lợi nhuận trước thuế (loại lãi bán đầu tư) cộng lãi vay chia cho lãi vay, còn 9,3 lần so với 13,0 lần cùng kỳ. Lãi tiền gửi và cho vay thu được chín tháng là 241,2 tỷ, so với 34,2 tỷ, nhưng vẫn thấp hơn chi phí lãi vay 73,5 tỷ.

Vay cuối quý III là 7.094 tỷ đồng, trong đó vay ngắn hạn 6.241 tỷ (88,0%, gồm 279 tỷ dài hạn đến hạn), còn tổng vay giảm từ đỉnh 8.467 tỷ cuối quý II. Tiền là 1.103 tỷ và tiền gửi có kỳ hạn 2.033 tỷ, nên nợ vay ròng sau tiền và tiền gửi là 3.958 tỷ, bằng 0,96 lần EBITDA bốn quý (4.127 tỷ).
Nếu coi 3.275 tỷ cho vay bên liên quan như tiền, nợ ròng chỉ còn khoảng 683 tỷ đồng, nhưng đó là khoản phải thu từ các công ty cùng tập đoàn chứ không phải tiền gửi. Từ 2026, theo Thông tư 43/2026/TT-BTC, công ty trình bày lại số đầu năm: khoản cho vay 2.515 tỷ chuyển từ khoản phải thu sang đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, nên biểu đồ gộp hai khoản để so sánh các quý.
Dòng tiền kinh doanh

Dòng tiền kinh doanh chín tháng 2.150 tỷ đồng, so với 812 tỷ cùng kỳ, và bằng 79,1% lợi nhuận trước thuế. Quý III thu 2.665 tỷ, trong khi quý II âm 516 tỷ và quý I gần bằng 0 (1 tỷ), nên sự cải thiện dồn vào một quý.
Trước thay đổi vốn lưu động, dòng tiền chín tháng là 2.947 tỷ. Phải thu và các khoản liên quan trừ 1.163 tỷ, tồn kho cộng 402 tỷ và phải trả cộng 888 tỷ. Chi mua sắm tài sản cố định chỉ 157 tỷ (151 tỷ cùng kỳ), tức 0,6% doanh thu, còn dòng tiền đầu tư chín tháng âm 2.584 tỷ, phần lớn là cho vay và gửi tiền.

Tồn kho giảm 1.155 tỷ đồng trong quý III (từ 6.377 tỷ xuống 5.222 tỷ) sau khi tăng 748 tỷ ở quý II, tức quý III trả lại phần lớn khoản tăng đó. Phải thu khách hàng là 2.310 tỷ đồng, so với 1.366 tỷ đầu năm (tăng 69%), và dự phòng phải thu khó đòi 160 tỷ.
Cổ đông và thanh khoản

Tập đoàn GELEX nắm 75,96% vốn (cập nhật 08/10/2026). Ngày 28/10/2026 Công ty TNHH Felicitas, công ty con gián tiếp của Tập đoàn GELEX và là người có liên quan của Chủ tịch Lê Bá Thọ, báo cáo mua 10 triệu cổ phiếu GEE (1,56%) từ 27 đến 28/10, giá trị theo mệnh giá 100 tỷ đồng; sau giao dịch nhóm này nắm 499,2 triệu cổ phiếu, tức 77,93%.
Cổ phiếu tự do chuyển nhượng chỉ 14%, nhà đầu tư nước ngoài nắm 0,70% so với giới hạn 50%. Khối lượng khớp trung bình 20 phiên là 1,42 triệu cổ phiếu, bằng 0,92 lần trung bình 60 phiên (1,54 triệu), và giá trị khớp trung bình tháng 10 là 98,5 tỷ đồng mỗi phiên.
Đại hội cổ đông ngày 23/10/2026 thông qua việc đổi tên công ty thành Công ty cổ phần Công nghiệp GELEX, miễn nhiệm ông Đặng Phan Tường và bầu bổ sung ông Lê Tuấn Anh vào Hội đồng quản trị. Tên mới có hiệu lực khi cơ quan đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận.
Khối ngoại và tự doanh

Khối ngoại giao dịch đều nhưng nắm rất ít. Trong 12 tháng tới 30/10/2026 họ mua 2.765 tỷ đồng và bán 2.635 tỷ, tức mua ròng 130 tỷ, và tổng 5.400 tỷ bằng khoảng 21% giá trị khớp. Có 114 phiên mua ròng và 134 phiên bán ròng.
Khối ngoại mua ròng liên tục từ quý IV/2024 tới quý III/2026, lớn nhất là 201,6 tỷ quý II/2026, rồi chuyển sang bán ròng 189,7 tỷ riêng tháng 10. Trong 30 phiên gần nhất họ bán ròng 122 tỷ, và 90 phiên bán ròng 170 tỷ.

Luỹ kế 12 tháng cho thấy dòng tiền này không giữ được giá. Khối ngoại mua ròng luỹ kế đạt đỉnh 364 tỷ đồng ngày 17/06/2026, khi giá đóng cửa 95.140 đồng, rồi giảm về 130 tỷ cùng lúc giá rơi xuống 66.300 đồng; 12 tháng giá giảm 32,6% dù luỹ kế vẫn dương.

Tỷ lệ nắm giữ của khối ngoại là 0,70% vốn ngày 30/10/2026, và còn gần toàn bộ room 50%. Cơ sở dữ liệu không có số khớp lệnh và thoả thuận tách riêng của khối ngoại, nên bài không tách hai loại này.
Tự doanh có 291 dòng, dữ liệu tới 28/10/2026. Tự doanh mua ròng 3.282 tỷ đồng từ quý III/2025 tới quý I/2026, khi giá đóng cửa cuối quý tăng từ 70.540 đồng (quý III/2025) lên 136.360 đồng (quý IV/2025) rồi còn 111.380 đồng (quý I/2026), sau đó bán ròng 1.835 tỷ từ quý II/2026 (1.206 tỷ quý II, 349 tỷ quý III và 281 tỷ riêng tháng 10). Các phiên lớn nhất đều nằm ở cột thoả thuận: mua ròng 990 tỷ ngày 14/11/2025, 675 tỷ ngày 17/03/2026 và 490 tỷ ngày 12/11/2025, bán ròng 472 tỷ ngày 14/05/2026 và 424 tỷ ngày 27/05/2026. Phiên 28/10/2026 bán ròng 280 tỷ nhưng cột loại giao dịch để trống.
So sánh cùng ngành

Nhóm so sánh gồm hai mã dây cáp điện (TYA, VTH), hai mã chiếu sáng (RAL, DQC), một mã điện cơ (DHP) và PC1 (xây lắp điện, điện lực), tất cả theo bốn quý tới quý III/2026. Trung vị tính trên sáu mã, không gồm GEE. GEX không có trong nhóm vì hợp nhất GEE, và các công ty con của GEE cũng không đưa vào.
Nhóm này nhỏ hơn GEE nhiều (vốn hoá từ 104 tỷ đến 7.609 tỷ, so với 42.465 tỷ) và định giá thấp: trung vị P/E 5,78 lần, P/B 0,63 lần, ROE 15,1%. Cổ phiếu GEE có P/E 16,35 lần gấp 2,8 lần trung vị và P/B 4,99 lần gấp 7,9 lần, đổi lại ROE 32,5% gấp 2,2 lần; biên gộp bốn quý 14,8% thấp hơn trung vị 17,9%.

Không mã nào trong nhóm có ROE trên 20%: cao nhất là TYA với 19,5%, rồi PC1 17,2% và VTH 16,7%, cả ba có P/B từ 0,66 đến 1,10 lần. Mức chênh P/B giữa GEE và nhóm vì vậy lớn hơn mức chênh ROE, và phần chênh này có thể phản ánh kỳ vọng GEE giữ được ROE trên 30%, trong khi biên gộp đang giảm.
Định giá theo P/E, P/B và DCF
Lợi nhuận bốn quý của GEE không còn khoản lãi bán đầu tư, nên bài dùng P/E, P/B, P/B hợp lý theo ROE, EV/EBITDA nhóm và DCF. EPS bốn quý là 4.055 đồng, bằng lợi nhuận cổ đông công ty mẹ bốn quý tới quý III/2026 (2.597 tỷ) chia 640,50 triệu cổ phiếu. BVPS là 13.292 đồng, bằng vốn chủ cổ đông công ty mẹ 8.513 tỷ chia số cổ phiếu.
Bài dùng r = 12% và g = 3%, là giả định của HODL.VN. Với DCF năm năm trên số hợp nhất, doanh thu bốn quý là 33.521 tỷ đồng và thay đổi −5%, +3% hoặc +6% mỗi năm, biên EBIT 9,0%, 11,0% hoặc 12,0% (đã gồm lãi liên doanh; bốn quý gần nhất là 11,7%, năm 2025 là 12,1%), thuế 20%, khấu hao 0,9% và chi đầu tư 1,2% doanh thu, vốn lưu động 15% phần doanh thu tăng thêm, WACC 11%.
Giá trị vốn chủ hợp nhất bằng giá trị doanh nghiệp cộng tiền, đầu tư ngắn hạn và cho vay trừ vay (âm 344 tỷ đồng, trong đó 3.225 tỷ cho vay bên liên quan tính theo giá trị sổ sách), rồi phần thuộc cổ đông GEE lấy 95,1%, bằng lợi nhuận mẹ trên lợi nhuận hợp nhất bốn quý.

Mười ba phép cho giá trị từ 6.735 đến 60.879 đồng, và cả mười ba phép đều thấp hơn giá 66.300 đồng. Phép sát giá nhất là DCF kịch bản cao (doanh thu tăng 6% mỗi năm, biên 12,0%) cho 60.879 đồng, thấp hơn giá 8,2%, còn DCF cơ sở cho 51.182 đồng, thấp hơn 22,8%.
Các phép theo nhóm cho giá trị rất thấp, từ 6.735 đến 32.646 đồng, vì nhóm có ROE thấp và P/B dưới 1,1 lần nên không phản ánh GEE. P/B hợp lý theo ROE 30% cho 39.876 đồng, và nếu ROE bền vững là 32,5% thì P/B hợp lý là 3,28 lần, tương đương khoảng 43.600 đồng.

DCF cơ sở cho 51.182 đồng, và chỉ hai trong mười lăm ô của lưới độ nhạy (WACC 9% với g 3% và 4%) cao hơn giá, từ 38.248 đến 79.404 đồng. Muốn DCF bằng 66.300 đồng ở WACC 11% và biên 11,7%, doanh thu phải tăng khoảng 10,6% mỗi năm trong năm năm, so với 3% ở kịch bản cơ sở.
Thang giá tham chiếu

Thang giá xếp các phép theo giá trị, kèm đỉnh đóng cửa 52 tuần 136.360 đồng (31/12/2025), đáy đóng cửa 52 tuần 57.240 đồng (14/09/2026) và giá trị sổ sách 13.292 đồng.
Giá nằm trên DCF kịch bản cao (60.879 đồng) và đáy 52 tuần 57.240 đồng ở dưới, và dưới đỉnh 52 tuần ở trên. Giá cao hơn đáy 15,8% và thấp hơn đỉnh 51,4%, trong khi DCF cơ sở 51.182 đồng nằm dưới đáy 52 tuần 10,6%.
Phân tích kỹ thuật
Biểu đồ tuần của cổ phiếu GEE đã giảm một nửa từ đỉnh 136.360 đồng ngày 31/12/2025 và đi ngang từ tháng 08/2026 với giá đóng cửa trong khoảng 57.240 đến 75.700 đồng. Từ đầu năm GEE giảm 51,4% trong khi VN-Index đứng yên (giảm 0,02%), và 120 phiên gần nhất giảm 45,9% so với VN-Index giảm 8,4%. Hai mươi phiên gần nhất giảm 3,2% so với VN-Index tăng 0,2%.
Hỗ trợ - Kháng cự

Các vùng dưới đây tính từ giá cao và giá thấp của nến tuần, cửa sổ từ 10/2023, vẽ trên trục giá logarit vì giá đã tăng hơn 13 lần từ đáy 2023. Mỗi vùng chứa các đỉnh hoặc đáy swing (cực trị trong ±3 tuần); hai vùng gần giá có hai hoặc ba điểm.
Vùng giá (đồng) | Loại | Ý nghĩa |
|---|---|---|
129.910 tới 136.630 | Kháng cự xa | Đỉnh tuần 05/12/2025 (129.910), 15/05/2026 (135.110), 09/01/2026 (136.630); cao hơn giá 95,9% đến 106,1% |
74.540 tới 76.600 | Kháng cự gần | Đỉnh tuần 22/08/2025 (74.540) và 02/10/2026 (76.600); cao hơn giá 12,4% đến 15,5% |
55.540 tới 60.720 | Hỗ trợ gần | Đáy tuần 12/09/2025 (55.540), 31/07/2026 (60.720) và 18/09/2026 (56.550); thấp hơn giá 8,4% đến 16,2% |
49.220 tới 50.520 | Hỗ trợ xa | Đáy tuần 13/06/2025 (49.220) và 11/07/2025 (50.520); thấp hơn giá 23,8% đến 25,8% |
Vùng 74.540 đến 76.600 đồng là mốc gần nhất phía trên giá, cao hơn giá từ 12,4% đến 15,5%. Giá đóng cửa cao nhất của nhịp hồi là 75.700 đồng ngày 30/09/2026, nằm trong vùng này, và lần đóng cửa gần nhất trên 76.600 đồng là ngày 17/07/2026.
Phía dưới, đường xu hướng tăng nối đáy tuần 13/06/2025 (49.220), 11/07/2025 (50.520) và 31/07/2026 (60.720) đi qua khoảng 63.300 đồng, thấp hơn giá 4,5%. Bóng nến tuần 18/09/2026 xuống 56.550 đồng nhưng đóng cửa tuần ở 63.900, trên đường. Nếu giá đóng cửa tuần dưới đường, mốc kế tiếp là vùng 55.540 đến 60.720 đồng. Đỉnh 52 tuần và cũng là đỉnh chu kỳ (đóng cửa) là 136.360 đồng ngày 31/12/2025, đáy 52 tuần (đóng cửa) là 57.240 đồng ngày 14/09/2026, và đáy ba năm (đóng cửa) là 10.360 đồng ngày 03/10/2023.
Fibonacci

Fibonacci kéo theo giá đóng cửa cho nhịp tăng từ đáy 57.240 đồng ngày 14/09/2026 lên đỉnh 75.700 đồng ngày 30/09/2026, vẽ trên nến tuần. Các mức hồi từ đỉnh xuống là 23,6% (71.343 đồng), 38,2% (68.648 đồng), 50% (66.470 đồng), 61,8% (64.292 đồng) và 78,6% (61.190 đồng).
Giá 66.300 đồng đã hồi 50,9% nhịp tăng, thấp hơn mức 50% khoảng 0,3%. Mức 78,6% nằm sát mép trên vùng hỗ trợ 55.540 đến 60.720 đồng, còn mức 61,8% nằm cạnh đường xu hướng tăng ở khoảng 63.300 đồng.
Xu hướng EMA

Giá 66.300 đồng nằm trên EMA200 và dưới bốn đường còn lại: EMA10 ở 69.024, EMA20 ở 73.692, EMA50 ở 78.832, EMA100 ở 69.236 và EMA200 ở 52.022 đồng. Giá thấp hơn EMA10 3,9%, EMA20 10,0%, EMA50 15,9%, EMA100 4,2%, và cao hơn EMA200 27,4%.
EMA20 tuần cắt xuống EMA50 ngày 21/08/2026, còn EMA50 đã cắt lên EMA200 từ 18/10/2024 và vẫn nằm trên. EMA200 vẫn dốc lên, nên đường dài hạn chưa bị phá, nhưng EMA10, EMA20 và EMA50 đều dốc xuống còn EMA100 gần như đi ngang.
RSI và động lượng

RSI(14) tuần ở 42,2, đã rời vùng quá mua từ đầu năm. RSI trên 70 ba mươi tuần liên tiếp từ 07/02/2025 tới 29/08/2025 (đỉnh 93,5 tuần 23/05/2025), thêm chín tuần từ 10/10/2025 tới 05/12/2025 (đỉnh 82,8) và một tuần ngày 02/01/2026 (72,7), đúng tuần giá đóng cửa chạm đỉnh. Trong năm 2026 RSI thấp nhất là 33,9 tuần 11/09/2026 và cao nhất là 61,3 tuần 08/05/2026.

MACD tuần cắt lên đường tín hiệu ngày 09/10/2026, sau lần cắt xuống ngày 29/05/2026. MACD ở −6.460, vẫn dưới 0 nhưng trên đường tín hiệu (−7.230), tức động lượng tăng mới xuất hiện từ vùng thấp và chênh lệch giữa hai đường chỉ là 770.
Cổ tức và tăng vốn

Cổ tức đã trả bằng tiền chín tháng 2026 là 1.295 tỷ đồng, gần như toàn bộ (1.272 tỷ) ở quý II, gồm phần chia cho cổ đông ngoài ở các công ty con. Theo tài liệu đại hội đăng trên website Gelex Group, cổ tức 2025 là 55% bằng tiền; cổ tức 2026 được thông qua 30% bằng tiền, đã tạm ứng 5% ngày 30/06/2026 và 5% đợt hai (chốt quyền 18/09/2026, hơn 320 tỷ), tức 3.000 đồng mỗi cổ phiếu cả năm, bằng 4,5% giá hiện tại.
Tháng 05/2026 công ty phát hành 274,5 triệu cổ phiếu thưởng tỷ lệ 4:3, nâng vốn điều lệ từ 3.660 tỷ lên 6.405 tỷ đồng, chủ yếu từ lợi nhuận chưa phân phối (2.520 tỷ). Lợi nhuận chưa phân phối vì vậy giảm từ 3.669 tỷ đầu năm xuống 1.636 tỷ, sau thưởng cổ phiếu và 1.555 tỷ cổ tức công bố chín tháng.
Lịch sự kiện cần theo dõi
Thời điểm | Sự kiện | Vì sao quan trọng |
|---|---|---|
Các tuần tới | Hoàn tất thủ tục đổi tên thành Công ty cổ phần Công nghiệp GELEX | Đại hội cổ đông 23/10/2026 đã thông qua, hiệu lực khi có giấy chứng nhận |
Tháng 01/2027 | Kết quả quý IV/2026 và cả năm | Lợi nhuận trước thuế chín tháng đã bằng 100,5% kế hoạch 2.705 tỷ; biên gộp 14,6% và lãi vay 122,5 tỷ mỗi quý |
Các quý tới | Dư nợ cho vay bên liên quan | 3.275 tỷ, trong đó Hạ tầng GELEX 1.415 tỷ, so với vốn chủ 8.910 tỷ |
Các quý tới | Mua hàng từ công ty mẹ và tồn kho | 5.183 tỷ trong chín tháng; tồn kho 5.222 tỷ sau khi giảm 1.155 tỷ ở quý III |
Quý II/2027 | Đại hội cổ đông thường niên | Kế hoạch 2027, cổ tức tiền mặt và phương án tăng vốn |
Các tuần tới | Giá đóng cửa tuần so với 55.540 đến 60.720 và 74.540 đến 76.600 đồng | Hai mép vùng đi ngang từ tháng 08/2026 |
Kết luận
Cổ phiếu GEE ghi nhận lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ 774,4 tỷ đồng quý III/2026, thấp hơn cùng kỳ 55,6% vì nền quý III/2025 có 1.473 tỷ lãi bán đầu tư, nhưng loại khoản đó thì lợi nhuận trước thuế chín tháng tăng 32,0% và đã đạt kế hoạch năm. Doanh thu tăng 50,1% trong khi biên lãi gộp giảm còn 14,6%.
Điểm yếu nằm ở dòng tiền với tập đoàn. GEE cho công ty cùng tập đoàn vay 3.275 tỷ đồng, bằng 36,8% vốn chủ, trong khi vay ngân hàng 7.094 tỷ với lãi vay gấp đôi cùng kỳ và mua hàng từ công ty mẹ 5.183 tỷ trong chín tháng. Về giá, P/E 16,4 lần và P/B 4,99 lần cao hơn nhiều so với trung vị nhóm, cả mười ba phép định giá thấp hơn giá. Về kỹ thuật, giá đi ngang trong khoảng 57.240 đến 75.700 đồng với hỗ trợ gần 55.540 đến 60.720 đồng, đường xu hướng tăng ở khoảng 63.300 đồng và kháng cự gần 74.540 đến 76.600 đồng.
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 30/10/2026
Ứng dụng HODL
Tải app HODL
Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.