Phân tích cổ phiếu ASP Quý 4/2026: Giá giảm 25% trong 8 phiên, dòng tiền kinh doanh quý III âm 183 tỷ

Triều Tô15 phút đọc
Nội dung bài15 phần
  1. Cảnh báo: biến động giá bất thường
  2. Định giá cổ phiếu ASP: quy mô
  3. Lợi nhuận quý III đến từ đâu
  4. Lỗ luỹ kế được xoá
  5. Nợ vay và lãi vay
  6. Dòng tiền kinh doanh âm
  7. Cổ đông và thanh khoản
  8. Khối ngoại và tự doanh
  9. So sánh cùng ngành
  10. Định giá cổ phiếu ASP: P/B và DCF
  11. Thang giá tham chiếu
  12. Phân tích kỹ thuật
  13. Hỗ trợ - Kháng cự
  14. Fibonacci
  15. Xu hướng EMA
  16. RSI và động lượng
  17. Lịch sự kiện cần theo dõi
  18. Kết luận
  19. Dự báo xu hướng

CTCP Tập đoàn Dầu khí An Pha (mã ASP, sàn HOSE) phân phối khí hoá lỏng LPG, và định giá cổ phiếu ASP Quý 4/2026 phải bắt đầu từ một nhịp giá rất mạnh: giá tăng gấp 3,8 lần (278%) từ 4.650 lên 17.600 đồng, rồi giảm 25,0% về 13.200 đồng trong 8 phiên. Cùng kỳ VN-Index chỉ giảm 1,3%.

Bên dưới nhịp giá là một bức tranh lệch pha. Lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ chín tháng 2026 đạt 147,7 tỷ đồng, gấp 10,6 lần cả năm 2025, nhưng dòng tiền kinh doanh quý III âm 182,5 tỷ đồng và vay ngắn hạn tăng lên 618 tỷ.

Giá đóng cửa phiên 05/11/2026 là 13.200 đồng, vốn hoá 493 tỷ đồng, P/E 3,3 lần và P/B 1,04 lần. Bài đi từ biến động giá sang lợi nhuận, dòng tiền, nợ vay, cổ đông, rồi định giá và kỹ thuật.

Cảnh báo: giá đi nhanh hơn thông tin có thể kiểm chứng. Giá tăng gấp 3,8 lần rồi mất 25,0% trong 8 phiên, trong khi lợi nhuận quý III giảm 40,7% so với quý II và dòng tiền kinh doanh âm.

Điểm chính

  • Quý III/2026 doanh thu 1.130,7 tỷ (tăng 30,3%), lãi gộp 129,8 tỷ (tăng 48,9%), lợi nhuận cổ đông mẹ 37,9 tỷ (tăng 151,3%) nhưng thấp hơn 40,7% so với quý II (64,0 tỷ).
  • Biên lãi gộp chín tháng 12,8% so với 10,6% cùng kỳ; chi phí bán hàng gần như đi ngang (163,8 tỷ so với 161,6 tỷ) nên phần lãi gộp tăng thêm chảy gần hết xuống lợi nhuận.
  • Dòng tiền kinh doanh quý III âm 182,5 tỷ do phải trả người bán giảm 188 tỷ; vay ngắn hạn 618 tỷ gấp 3,0 lần tiền và đầu tư ngắn hạn 206 tỷ.
  • P/E 3,3 lần so với trung vị nhóm 8,7 lần; giá 13.200 đồng ngầm định ROE bền vững 12,3% so với ROE bốn quý 38,0%.
  • Nước ngoài đã nắm 49,00% vốn, bằng giới hạn, room còn lại 0 cổ phiếu; thanh khoản trung bình 3,1 tỷ đồng mỗi phiên trong 60 phiên gần nhất.

Cảnh báo: biến động giá bất thường

Giá cổ phiếu An Pha (ASP) đi một nhịp hai chiều lớn trong chưa đầy một năm, và dữ liệu báo cáo tài chính không có điểm nào giải thích được tốc độ của nhịp giảm vừa qua.

Giá đóng cửa D1 của cổ phiếu ASP từ 05/11/2025, đáy 4.650 đồng ngày 21/01/2026, đỉnh 17.600 đồng ngày 26/10/2026
  • Từ đáy đóng cửa 4.650 đồng (21/01/2026) giá tăng 278,5% lên 17.600 đồng (26/10/2026). Từ đầu năm giá tăng 181,4%, VN-Index giảm 2,5%.
  • Từ 26/10 đến 05/11 giá giảm 25,0% trong 8 phiên, có 7 phiên giảm, phiên giảm mạnh nhất là 6,8% (27/10). VN-Index cùng giai đoạn giảm 1,3%.
  • Khối lượng khớp bình quân 8 phiên giảm là 406 nghìn cổ phiếu, gấp 2,6 lần 154 nghìn của 20 phiên tới đỉnh.
  • Phiên đỉnh 26/10 chỉ khớp 95.600 cổ phiếu, thấp hơn nhiều so với các phiên giảm sau đó.

Điều đáng lo là giá giảm mạnh ngay sau khi quý III cho thấy hai điểm yếu: lợi nhuận giảm 40,7% so với quý II và dòng tiền kinh doanh âm 182,5 tỷ đồng. Bài không suy ra nguyên nhân của nhịp giảm vì số liệu trong bài không đủ để kết luận.

Với cổ phiếu có 40% vốn tự do chuyển nhượng và giá trị khớp vài tỷ đồng mỗi phiên, nhịp tăng gấp 3,8 lần rồi giảm một phần tư trong 8 phiên cho thấy giá có thể đổi chiều rất nhanh. Người mua theo đà phải chấp nhận rủi ro mất thêm giá trị khi thanh khoản mỏng.

Định giá cổ phiếu ASP: quy mô

CTCP Tập đoàn Dầu khí An Pha (ASP) niêm yết trên HOSE từ 15/02/2008. Công ty nhập khẩu, chiết nạp và phân phối bán buôn, bán lẻ khí hoá lỏng LPG, kèm dịch vụ kho bãi và vận tải gas bằng tàu biển, xe bồn.

Vốn điều lệ 373,4 tỷ đồng ứng với 37,34 triệu cổ phiếu, không đổi từ năm 2014. Vốn hoá theo giá 13.200 đồng là 492,9 tỷ đồng, tổng tài sản cuối quý III là 1.653,1 tỷ, tăng 24,6% từ đầu năm.

Doanh thu thuần và biên lãi gộp theo quý của cổ phiếu ASP từ quý I/2025 đến quý III/2026

Quý III/2026 doanh thu thuần là 1.130,7 tỷ đồng, tăng 30,3% so với cùng kỳ nhưng giảm 13,4% so với quý II (1.304,9 tỷ). Biên lãi gộp 11,5%, so với 10,0% cùng kỳ và 12,6% quý II.

Chín tháng 2026, doanh thu 3.229,6 tỷ (tăng 32,3%), lãi gộp 412,9 tỷ (tăng 60,0%) và lợi nhuận trước thuế 176,7 tỷ so với 15,9 tỷ cùng kỳ.

Doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ của cổ phiếu ASP theo năm 2023, 2024, 2025 và chín tháng 2026

Doanh thu chín tháng 2026 bằng 99,7% cả năm 2025 (3.239,1 tỷ), còn lợi nhuận cổ đông mẹ bằng 10,6 lần (147,7 tỷ so với 14,0 tỷ). Năm 2023 công ty lỗ 153,3 tỷ.

Biên lãi gộp cả năm giảm từ 20,4% (2019) xuống 9,4% (2022), quanh 10% đến 2025, rồi lên 12,8% chín tháng 2026. Mức 12,8% là cao nhất kể từ năm 2021 (13,2%).

Các chỉ số bốn quý tới Q3/2026:

  • EPS 4.060 đồng, BVPS 12.732 đồng.
  • P/E 3,3 lần, P/B 1,04 lần.
  • ROE 38,0%, EBITDA 234,5 tỷ.

Lợi nhuận quý III đến từ đâu

Cầu nối lợi nhuận trước thuế của cổ phiếu ASP từ quý III/2025 sang quý III/2026

Lợi nhuận trước thuế quý III/2026 của An Pha là 44,6 tỷ đồng, gấp 2,4 lần 18,6 tỷ cùng kỳ nhưng thấp hơn 47,3% so với quý II (84,7 tỷ). Lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ là 37,9 tỷ, so với 64,0 tỷ quý II.

Cầu nối tăng 26 tỷ qua các bước:

  • Doanh thu tăng cộng +26 tỷ, biên lãi gộp từ 10,0% lên 11,5% cộng +16 tỷ.
  • Thu nhập tài chính +3 tỷ và lãi liên doanh +2 tỷ.
  • Chi phí bán hàng và quản lý −3 tỷ, chi phí tài chính −4 tỷ.
  • Lợi nhuận khác −15 tỷ, từ +12,8 tỷ xuống −2,1 tỷ.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp theo phần trăm doanh thu thuần của cổ phiếu ASP theo quý

Chi phí bán hàng chiếm 5,0% doanh thu quý III, so với 6,2% cùng kỳ; chi phí quản lý 2,0% so với 2,6%. Chín tháng, hai khoản này chỉ tăng 1,4% và giảm 4,5% trong khi doanh thu tăng 32,3%.

Lãi từ công ty liên doanh, liên kết chín tháng là 20,9 tỷ, so với 2,1 tỷ cùng kỳ. Thuế thu nhập doanh nghiệp quý III là 6,3 tỷ, bằng 14,1% lợi nhuận trước thuế, so với 23,8% quý II.

Lỗ luỹ kế được xoá

Lợi nhuận chưa phân phối và vốn chủ sở hữu của cổ đông công ty mẹ của cổ phiếu ASP cuối các quý từ Q3/2025 đến Q3/2026

Lợi nhuận chưa phân phối của An Pha chuyển từ âm 52,3 tỷ đồng cuối quý III/2025 sang dương 100,3 tỷ cuối quý III/2026. Vốn chủ cổ đông mẹ tăng từ 322,8 tỷ lên 475,4 tỷ, tức 47,3%, hoàn toàn từ lợi nhuận giữ lại vì vốn góp giữ nguyên 373,4 tỷ.

Năm 2023 công ty lỗ sau thuế 153,3 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu giảm từ 490 tỷ cuối 2022 xuống 321 tỷ cuối 2023.

Vốn chủ tăng làm BVPS lên 12.732 đồng, gần sát giá 13.200 đồng. Gần một phần ba vốn chủ cổ đông mẹ (148 tỷ trên 475 tỷ) mới hình thành trong ba quý 2026.

Nợ vay và lãi vay

Vay ngắn hạn, tiền và đầu tư ngắn hạn, vốn chủ cổ đông mẹ của cổ phiếu ASP cuối các quý

Vay và nợ thuê tài chính của An Pha cuối quý III là 618,1 tỷ đồng, toàn bộ là vay ngắn hạn, tăng 242,3 tỷ (64,5%) từ 375,8 tỷ cuối 2025. Tiền và đầu tư ngắn hạn là 206,0 tỷ, nên vay ngắn hạn gấp 3,0 lần tiền.

Nợ vay ròng 412,1 tỷ bằng 1,76 lần EBITDA bốn quý (234,5 tỷ) và vay bằng 1,30 lần vốn chủ cổ đông mẹ (475,4 tỷ).

Chi phí lãi vay quý III là 11,5 tỷ, tăng 75,5% so với cùng kỳ; chín tháng 29,1 tỷ, tăng 55,0%. Hệ số trả lãi (lợi nhuận trước thuế cộng lãi vay, chia lãi vay) quý III là 4,9 lần.

Dòng tiền kinh doanh âm

Lợi nhuận sau thuế, dòng tiền kinh doanh và chi mua sắm tài sản cố định của cổ phiếu ASP theo quý

Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh quý III của An Pha là âm 182,5 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận sau thuế dương 38,3 tỷ. Chín tháng 2026 dòng tiền kinh doanh âm 157,4 tỷ so với lợi nhuận sau thuế 149,1 tỷ.

Nguyên nhân chính nằm ở dòng tiền thay đổi vốn lưu động: khoản tăng, giảm các khoản phải trả là âm 191,7 tỷ trong quý III. Phải trả người bán ngắn hạn giảm từ 651,0 tỷ xuống 463,2 tỷ.

Phải thu ngắn hạn, phải trả người bán ngắn hạn và hàng tồn kho của cổ phiếu ASP cuối các quý

Các khoản vốn lưu động cuối quý III:

  • Phải thu ngắn hạn 627,8 tỷ, so với 639,9 tỷ cuối quý II.
  • Phải trả người bán ngắn hạn 463,2 tỷ, so với 651,0 tỷ.
  • Hàng tồn kho 168,3 tỷ, tăng từ 42,4 tỷ cuối 2025, gấp 4,0 lần.

Doanh nghiệp thương mại phân phối thường ghi lãi trước khi thu được tiền. Việc đã trả bớt nhà cung cấp 188 tỷ trong một quý được bù bằng vay ngắn hạn tăng 158 tỷ cùng quý.

Chi phí trả trước dài hạn là 377,0 tỷ cuối quý III, bằng 22,8% tổng tài sản, giảm từ 422,4 tỷ cuối Q3/2025. Dòng tiền kinh doanh cả năm 2025 là 57 tỷ, so với lãi sau thuế 14,0 tỷ.

Cổ đông và thanh khoản

Cơ cấu cổ đông của cổ phiếu ASP: Saisan, cổ đông cá nhân, BIDV, cổ phiếu tự do chuyển nhượng và nhà đầu tư nước ngoài

Cổ đông lớn nhất của An Pha theo danh sách 29/07/2026:

Cổ đông

Cổ phiếu

Tỷ lệ

Saisan

17.998.426

48,20%

Trần Minh Loan

2.188.100

5,86%

BIDV, chi nhánh Hải Phòng

2.050.000

5,49%

Trần Duy Luân (Phó Tổng Giám đốc)

2.000.000

5,35%

Cổ phiếu tự do chuyển nhượng là 40,0% vốn, tương ứng khoảng 14,9 triệu cổ phiếu. Vốn hoá phần tự do chuyển nhượng khoảng 197 tỷ đồng theo giá 13.200 đồng.

Giá trị khớp trung bình mỗi phiên của cổ phiếu ASP theo tháng từ 11/2025

Giá trị khớp trung bình 3,5 tỷ đồng mỗi phiên trong tháng 10/2026, so với 1,7 tỷ tháng 06 và dưới 0,3 tỷ tháng 01 và 02. Bốn phiên đầu tháng 11 là 4,0 tỷ.

Trung bình 12 tháng là 1,64 tỷ mỗi phiên, trung vị 0,91 tỷ. Với thanh khoản ở mức này, một lệnh vài tỷ đồng đủ làm giá lệch vài bước.

Khối ngoại và tự doanh

Giá trị mua bán ròng của khối ngoại với cổ phiếu ASP theo quý từ 06/11/2025

Nhà đầu tư nước ngoài nắm 49,00% vốn An Pha, bằng giới hạn 49%, room còn lại 0 cổ phiếu ở phiên 05/11/2026 (ngày 03/11 còn 3.700 cổ phiếu). Room ngoại đã hết nên khối ngoại chỉ mua được khi có nhà đầu tư nước ngoài khác bán.

Từ 06/11/2025 khối ngoại mua ròng 88 triệu đồng (mua 2,61 tỷ, bán 2,52 tỷ), giao dịch ở 129 trong 248 phiên. Theo quý: 5 triệu, −3 triệu, 20 triệu, 112 triệu và −46 triệu (quý IV tới 05/11).

Giá cổ phiếu ASP và giá trị mua bán ròng luỹ kế của khối ngoại từ 06/11/2025

Giá đóng cửa tăng 168,3% trong 12 tháng trong khi luỹ kế mua ròng chỉ dao động từ âm 225 triệu đến dương 144 triệu đồng. 30 phiên gần nhất khối ngoại bán ròng 27 triệu, 90 phiên gần nhất mua ròng 75 triệu.

Phiên bán ròng lớn nhất là 246 triệu đồng ngày 29/10, phiên mua ròng lớn nhất 207 triệu ngày 03/11. Số tiền nhỏ so với giá trị khớp hằng ngày, nên khối ngoại không phải động lực của nhịp giá.

Dữ liệu tự doanh chỉ có 42 dòng, dòng cuối ngày 23/06/2026, luỹ kế bán ròng 24,5 triệu đồng. Sau ngày đó chưa có số liệu.

So sánh cùng ngành

Bảng so sánh cổ phiếu ASP với sáu công ty phân phối khí và nhiên liệu về P/E, P/B, ROE, vay và biên lãi gộp

Nhóm so sánh của An Pha gồm sáu doanh nghiệp: PGC, CNG, PGD, PGS, PVG (khí, LPG) và SFC (nhiên liệu). Vốn hoá nhóm từ 210 đến 3.865 tỷ, so với 493 tỷ của ASP. Cả sáu đều có báo cáo quý III/2026.

GAS và PLX bị loại vì vốn hoá lớn gấp nhiều lần nhóm còn lại.

Cổ phiếu ASP có P/E 3,3 lần, thấp nhất nhóm (trung vị 8,7 lần) và P/B 1,04 lần, gần trung vị 1,08 lần:

Chỉ tiêu

ASP

Trung vị nhóm

P/E

3,3 lần

8,7 lần

P/B

1,04 lần

1,08 lần

ROE bốn quý

38,0%

15,5%

Vay trên vốn chủ cổ đông mẹ

1,30 lần

0,07 lần

Biên lãi gộp bốn quý

12,7%

7,5%

Biểu đồ P/B theo ROE của cổ phiếu ASP và sáu công ty so sánh

Biểu đồ đặt ASP ở vị trí ROE cao nhất nhóm nhưng P/B không cao hơn trung vị. Thị trường chưa trả giá cho mức ROE 38,0%, một dấu hiệu nghi ngờ rằng lợi nhuận bốn quý này khó lặp lại.

Về vay, chỉ PGC (1,76 lần) cao hơn ASP (1,30 lần); năm mã còn lại có vay không quá 0,27 lần vốn chủ. ASP vì vậy nhạy hơn hẳn với lãi vay và với dòng tiền kinh doanh.

Định giá cổ phiếu ASP: P/B và DCF

Lợi nhuận bốn quý của An Pha (151,6 tỷ) gấp mười lần lợi nhuận năm 2025 (14,0 tỷ) nên bài đặt P/E trên cả hai mức để thấy độ rộng của kết quả. Bài dùng P/E, P/B, P/B hợp lý theo ROE bền vững và DCF; không dùng EV/EBITDA vì nhiều mã trong nhóm có tiền lớn hơn vay.

P/B hợp lý=ROE−gr−g\text{P/B hợp lý} = \dfrac{\text{ROE} - g}{r - g}

r = 12% và g = 3% là giả định của HODL.VN. Giá trị là P/B hợp lý nhân BVPS 12.732 đồng.

Bảng mười một phép định giá ASP theo P/E, P/B, P/B hợp lý theo ROE và DCF

Mười một phép cho giá trị từ 3.236 đến 40.838 đồng. Bốn phép thấp hơn giá 13.200 đồng: P/E trung vị nhân EPS năm 2025 (3.236 đồng), P/B hợp lý với ROE bền vững 10% (9.902 đồng), DCF kịch bản thấp (11.530 đồng) và P/B tứ phân vị dưới (12.273 đồng).

P/B trung vị nhóm cho 13.755 đồng, cao hơn giá 4,2%. P/E trung vị nhân EPS bốn quý cho 35.157 đồng, nhưng P/E nhân EPS năm 2025 chỉ cho 3.236 đồng. Khoảng cách 10 lần giữa hai con số này chính là ẩn số của ASP.

Giá 13.200 đồng ngầm định ROE bền vững 12,3%, tương ứng khoảng 59 tỷ đồng lợi nhuận cổ đông mỗi năm so với 151,6 tỷ của bốn quý. Thị trường chỉ trả giá cho khoảng 39% lợi nhuận bốn quý.

DCF cơ sở dùng doanh thu tăng 3% một năm, biên EBIT 3,0% (bốn quý là 4,8%, năm 2025 là 1,2%), WACC 12% và g 3%. Giá trị vốn chủ bằng giá trị doanh nghiệp cộng tiền, vốn góp liên doanh theo sổ 134,2 tỷ, trừ vay 618,1 tỷ và lợi ích thiểu số 3,4 tỷ.

Lưới độ nhạy giá trị ASP theo WACC và tăng trưởng dài hạn

DCF cơ sở cho 21.070 đồng, cao hơn giá 59,6%. Cả mười lăm ô trong lưới độ nhạy (từ 14.570 đến 33.954 đồng) đều cao hơn giá, vì biên EBIT 3,0% vẫn gấp 2,5 lần mức năm 2025.

Kịch bản thấp (doanh thu đi ngang, biên EBIT 2,0%) cho 11.530 đồng, thấp hơn giá 12,7%. Biên EBIT là biến số quyết định: hai kịch bản chênh nhau khoảng 9.500 đồng một cổ phiếu, chủ yếu do biên EBIT chênh 1%.

Thang giá tham chiếu

Giá ASP 13.200 đồng cao hơn bốn trong mười một phép định giá

Thang giá của An Pha xếp các phép theo giá trị, kèm giá trị sổ sách 12.732 đồng, đáy đóng cửa 52 tuần 4.650 đồng (21/01/2026) và đỉnh đóng cửa 17.600 đồng (26/10/2026).

Giá 13.200 đồng nằm giữa cụm giá trị 11.530 đến 16.976 đồng của P/B và DCF thấp. Phía trên là hai phép phụ thuộc lợi nhuận bốn quý (35.157 và 40.838 đồng), phía dưới là phép theo lợi nhuận năm 2025 (3.236 đồng).

Phân tích kỹ thuật

Cổ phiếu An Pha (ASP) có dữ liệu giá từ 2008, nên bài dùng nến tuần từ 01/2023. Giá 13.200 đồng thấp hơn 25,0% so với đỉnh đóng cửa 17.600 đồng và cao hơn đáy đóng cửa 52 tuần 4.650 đồng 183,9%.

Hỗ trợ - Kháng cự

Biểu đồ nến tuần ASP: kháng cự 16.250 đến 18.000, hỗ trợ 12.700 đến 13.200, 10.700 đến 11.250 và 7.100 đến 7.300 đồng, đường xu hướng tăng

Các vùng lấy từ đỉnh và đáy swing của nến tuần từ 01/2023 và nến ngày từ 06/2026, mỗi vùng có ít nhất ba điểm xoay chiều:

Vùng giá (đồng)

Loại

Ý nghĩa

16.250 tới 18.000

Kháng cự

Đỉnh 22/09, 01/10, 08/10, 14/10, 26/10; cao hơn giá 23,1% đến 36,4%

12.700 tới 13.200

Hỗ trợ

Đáy 10/09 và 05/11, đỉnh 03/08 và 19/08; giá đang nằm trong vùng

10.700 tới 11.250

Hỗ trợ

Đáy tuần 07/08, 14/08, 21/08; thấp hơn giá 14,8% đến 18,9%

7.100 tới 7.300

Hỗ trợ

Đáy tuần 29/05, 12/06, 19/06; thấp hơn giá 44,7% đến 46,2%

Đường xu hướng tăng nối bảy đáy từ 18/10/2024 đến 31/10/2025 (3.800 đến 4.080 đồng). Giá trị đường ở tuần cuối là 4.355 đồng, thấp hơn giá 67%, nên đường này chỉ là nền xa.

Giá đóng cửa 05/11 nằm sát mép trên của vùng hỗ trợ 12.700 đến 13.200 đồng. Nếu giá đóng cửa dưới vùng này, mức tiếp theo là 10.700 đến 11.250 đồng.

Fibonacci

Giá ASP nến tuần kèm các mức Fibonacci của nhịp tăng từ đáy đóng cửa 21/01 đến đỉnh đóng cửa 26/10

Fibonacci kéo theo giá đóng cửa cho nhịp tăng từ đáy 4.650 đồng ngày 21/01/2026 lên đỉnh 17.600 đồng ngày 26/10/2026. Các mức hồi từ đỉnh xuống:

  • 23,6%: 14.544 đồng
  • 38,2%: 12.653 đồng
  • 50%: 11.125 đồng
  • 61,8%: 9.597 đồng
  • 78,6%: 7.421 đồng

Giá 13.200 đồng đã hồi 34,0% nhịp tăng, nằm giữa mức 23,6% và 38,2%. Mức 38,2% (12.653 đồng) trùng vùng hỗ trợ 12.700 đến 13.200 đồng, mức 50% (11.125 đồng) nằm trong vùng 10.700 đến 11.250 đồng.

Xu hướng EMA

Giá ASP nến tuần dưới EMA10 và trên EMA20, EMA50, EMA100, EMA200

Trên khung tuần, giá 13.200 đồng thấp hơn EMA10 và cao hơn bốn đường còn lại:

  • EMA10 ở 14.564 đồng, cao hơn giá 10,3%.
  • EMA20 ở 13.076 đồng, thấp hơn giá 0,9%.
  • EMA50 ở 9.949 đồng, thấp hơn giá 24,6%.
  • EMA100 ở 7.933 đồng và EMA200 ở 6.821 đồng.

Các đường xếp giảm dần từ EMA10 xuống EMA200, tức xu hướng tăng trung hạn vẫn còn. EMA50 cắt lên EMA200 ngày 05/06/2026 và EMA20 cắt lên EMA50 ngày 06/03/2026.

Tuần 26 đến 30/10 là nến nhấn chìm giảm: mở 17.300, đóng 14.500, nuốt trọn thân nến tuần trước (15.750 đến 17.100). Giá đóng cửa tuần đó giảm 15,2% so với tuần trước.

RSI và động lượng

RSI(14) tuần của ASP ở 55,6 sau đỉnh 89,7 ngày 25/09

RSI(14) tuần ở 55,6, sau khi đạt đỉnh 89,7 ngày 25/09/2026; từ 02/10 đến 23/10 RSI tuần đều trên 80. Sáu tuần gần nhất: 87,3; 87,6; 82,7; 85,6; 63,3 và 55,6, tức lực mua đã rút nhanh.

MACD tuần của ASP dưới đường tín hiệu, histogram âm 146

MACD tuần ở 2.063, dưới đường tín hiệu 2.209, histogram âm 146. MACD cắt xuống đường tín hiệu trong tuần 02 đến 06/11 (mới có 4 phiên), sau lần cắt lên ngày 09/01/2026.

Lịch sự kiện cần theo dõi

An Pha có các mốc sau cần theo dõi:

Thời điểm

Sự kiện

Vì sao quan trọng

Tháng 01/2027 đến 02/2027

Báo cáo tài chính quý IV/2026 và cả năm

Lợi nhuận cổ đông mẹ chín tháng 147,7 tỷ; cần xem biên lãi gộp có giữ trên 12%

Hằng quý

Dòng tiền kinh doanh

Quý III âm 182,5 tỷ; phải trả người bán 463,2 tỷ

Hằng quý

Vay ngắn hạn và tiền

Vay 618,1 tỷ gấp 3,0 lần tiền và đầu tư ngắn hạn 206,0 tỷ

Hằng ngày

Room khối ngoại

Nước ngoài nắm 49,00%, room còn lại 0 cổ phiếu

Tháng 04 đến 06/2027, theo thông lệ

Đại hội cổ đông thường niên 2027

Kế hoạch lợi nhuận và chính sách cổ tức

Kết luận

Cổ phiếu ASP của An Pha có lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ chín tháng 147,7 tỷ đồng, nhờ biên lãi gộp 12,8% và chi phí bán hàng gần như đi ngang. Nhưng quý III thấp hơn 40,7% so với quý II, dòng tiền kinh doanh âm 182,5 tỷ và vay ngắn hạn gấp 3,0 lần tiền.

Về giá, P/E 3,3 lần là thấp nhất nhóm nhưng giá ngầm định ROE bền vững chỉ 12,3% so với ROE bốn quý 38,0%, tức thị trường không tin lợi nhuận này bền. Bốn trong mười một phép định giá thấp hơn giá; DCF cơ sở 21.070 đồng phụ thuộc vào biên EBIT 3,0%, gấp 2,5 lần mức năm 2025.

Dự báo xu hướng

Xu hướng tuần của cổ phiếu An Pha vẫn tăng: giá trên EMA20, EMA50, EMA100 và EMA200, nhưng nến nhấn chìm giảm tuần 30/10 và MACD cắt xuống cho thấy nhịp điều chỉnh chưa kết thúc. RSI tuần ở 55,6, đã rời xa vùng quá mua.

Phía dưới, vùng hỗ trợ 12.700 đến 13.200 đồng trùng mức Fibonacci 38,2%; giá đóng cửa dưới vùng này sẽ mở đường tới 10.700 đến 11.250 đồng. Phía trên, giá cần lấy lại EMA10 tuần (14.564 đồng) để nhịp điều chỉnh dừng lại, và vùng 16.250 đến 18.000 đồng là kháng cự mạnh nhất.

Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 05/11/2026

Ứng dụng HODL

Tải app HODL

Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.

Watchlist

Đang tải…