Phân tích cổ phiếu AGR Quý 4/2026: Lãi quý III giảm 57%, chi phí vay ngốn 37% doanh thu
Nội dung bài16 phần
- Định giá cổ phiếu AGR: quy mô
- Lợi nhuận quý III đến từ đâu
- Môi giới và thị phần
- Cho vay ký quỹ
- Tự doanh và danh mục
- Rủi ro lớn nhất: chi phí vay
- Thanh khoản và biến động giá
- Cổ đông, vốn điều lệ và cổ tức
- Khối ngoại và tự doanh
- Định giá cổ phiếu AGR: cùng ngành
- Định giá cổ phiếu AGR: P/B
- Thang giá tham chiếu
- Phân tích kỹ thuật
- Hỗ trợ - Kháng cự
- Fibonacci
- Xu hướng EMA
- RSI và động lượng
- Lịch sự kiện cần theo dõi
- Kết luận
- Dự báo xu hướng
Định giá cổ phiếu AGR Quý 4/2026 bắt đầu từ Công ty Cổ phần Chứng khoán Agribank (HOSE: AGR), công ty môi giới, cho vay ký quỹ và tự doanh do Ngân hàng Agribank nắm 74,92%: lợi nhuận sau thuế quý III/2026 là 29,2 tỷ đồng, giảm 57,5% dù doanh thu hoạt động tăng 8,1% lên 169,6 tỷ đồng.
Chi phí tài chính (gần như toàn bộ là lãi vay) là 62,9 tỷ đồng, gấp 5,9 lần cùng kỳ và bằng 37,1% doanh thu, vì vay ngắn hạn tăng từ 1.288 lên 3.722 tỷ đồng trong một năm. Lãi cho vay và lãi HTM (giữ đến đáo hạn) tăng 62,9 tỷ, nhưng chi phí tài chính ròng tăng 52,3 tỷ và chi phí quản lý tăng 22,1 tỷ.
Giá đóng cửa phiên 05/11/2026 là 11.800 đồng, ứng với P/E 21,63 lần, P/B 1,08 lần và ROE bốn quý 5,1%, trong khi trung vị tám công ty chứng khoán so sánh là 18,50 lần, 0,98 lần và 4,2%. Từ đầu năm giá giảm 22,3% còn VN-Index giảm 2,5%.
Bài tách phần giảm lợi nhuận, đọc môi giới và thị phần HOSE, cho vay ký quỹ, tự doanh và vốn vay, rồi đến cổ đông, dòng tiền, so sánh, định giá và đồ thị.
Điểm chính
- Lợi nhuận sau thuế quý III/2026 là 29,2 tỷ đồng, giảm 57,5% khi doanh thu tăng 8,1%. Chín tháng, lợi nhuận trước thuế 128,5 tỷ bằng 66,2% kế hoạch 194 tỷ, doanh thu 454,0 tỷ bằng 78,3% kế hoạch 580 tỷ.
- Chi phí tài chính 62,9 tỷ bằng 37,1% doanh thu và 176,1% lợi nhuận trước thuế quý III. Vay ngắn hạn 3.722 tỷ gấp 2,9 lần cùng kỳ và bằng 140% vốn chủ.
- Cho vay ký quỹ là 47,2% doanh thu quý III: dư nợ 3.211 tỷ, tăng 54,7% sau một năm, bằng 121% vốn chủ (trung vị nhóm 136,5%). Môi giới giảm 57,8% còn 8,8% doanh thu và nằm ngoài top 10 thị phần HOSE.
- Danh mục tự doanh 2.610 tỷ, gấp 2,0 lần cuối 2025, chủ yếu là HTM (giữ đến đáo hạn) 2.105 tỷ với lãi 50,3 tỷ quý III. Giá cổ phiếu tính từ đầu năm giảm 22,3%.
- Giá 11.800 đồng ngầm định ROE bền vững 12,7%, so với ROE bốn quý 5,1%; bảy trong mười một phép định giá thấp hơn giá.
Định giá cổ phiếu AGR: quy mô
Công ty Cổ phần Chứng khoán Agribank (AGR) niêm yết trên HOSE từ tháng 12/2009; Agribank nắm 74,92% và tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng là 30,0%. Số cổ phiếu lưu hành là 242,01 triệu sau đợt phát hành cổ phiếu trả cổ tức 6% (ngày không hưởng quyền 09/10/2026); vốn hoá theo giá 11.800 đồng là 2.856 tỷ đồng, đứng thứ 17 trong 30 công ty chứng khoán có báo cáo quý III.

Quý III, doanh thu hoạt động tăng 8,1% so với cùng kỳ (156,9 tỷ) và 21,9% so với quý II (139,1 tỷ). Lợi nhuận trước thuế 35,8 tỷ giảm 58,5% so với 86,1 tỷ; lợi nhuận sau thuế giảm 57,5%, thuế là 6,6 tỷ (18,4% lợi nhuận trước thuế).
Quý III/2025 là quý lợi nhuận cao nhất trong 11 quý gần nhất của Chứng khoán Agribank, nên nền so sánh cao: lãi FVTPL (tài sản ghi nhận qua lãi lỗ) khi đó là 40,1 tỷ, so với 14,4 tỷ quý này.
Chín tháng, lợi nhuận trước thuế là 128,5 tỷ đồng, giảm 8,1% so với 139,9 tỷ và bằng 66,2% kế hoạch 194 tỷ của đại hội cổ đông 29/04/2026. Doanh thu chín tháng 454,0 tỷ tăng 26,6% và bằng 78,3% kế hoạch 580 tỷ.
Vì vậy quý IV cần 65,5 tỷ lợi nhuận trước thuế, gấp 1,83 lần quý III, nhưng chỉ cần 126,0 tỷ doanh thu, bằng 0,74 lần quý III. Biên lợi nhuận trước thuế phải đạt khoảng 52%, so với 21,1% quý III và 28,3% chín tháng.

Lợi nhuận sau thuế năm 2025 là 141,9 tỷ đồng, tăng 5,0% so với 135,2 tỷ năm 2024 và bằng 36,4% mức đỉnh 390,1 tỷ năm 2021. Chín tháng 2026 là 103,0 tỷ, giảm 8,7% so với 112,8 tỷ.
EPS bốn quý là 545 đồng (đã tính cổ phiếu cổ tức), BVPS 10.957 đồng, ROE bốn quý 5,09% và ROA 2,54%. Lợi nhuận sau thuế bốn quý là 132,0 tỷ, giảm 15,4% so với 155,9 tỷ bốn quý trước đó.
Lợi nhuận quý III đến từ đâu

Tại Chứng khoán Agribank, tự doanh gồm lãi FVTPL, lãi HTM (đầu tư giữ đến ngày đáo hạn) và lãi AFS (tài sản sẵn sàng để bán). Ba khoản này là 65,3 tỷ đồng, bằng 38,5% doanh thu quý III, so với 37,1% cùng kỳ.
Doanh thu quý III 169,6 tỷ gồm:
- Cho vay ký quỹ 80,0 tỷ (47,2%), so với 31,8% cùng kỳ.
- Tự doanh 65,3 tỷ (38,5%), so với 37,1%.
- Môi giới 14,9 tỷ (8,8%), so với 22,5%.
- Tư vấn, lưu ký và dịch vụ khác 9,5 tỷ (5,6%), so với 8,6%.

Cầu nối tách phần giảm 50,3 tỷ đồng của lợi nhuận trước thuế, từ 86,1 tỷ xuống 35,8 tỷ:
- Chi phí tài chính ròng −52,3 tỷ, từ −10,6 tỷ xuống −62,9 tỷ.
- Lãi HTM và AFS +32,8 tỷ, lãi cho vay +30,1 tỷ.
- Chi phí quản lý −22,1 tỷ, từ 26,0 lên 48,1 tỷ.
- Tự doanh FVTPL ròng −17,6 tỷ, môi giới ròng −11,7 tỷ và các khoản còn lại −9,4 tỷ.
Lãi cho vay và lãi HTM cộng 62,9 tỷ, nhưng chi phí tài chính ròng tăng 52,3 tỷ, nên chỉ còn dư 10,6 tỷ. Chi phí quản lý tăng 85,1% và cùng với môi giới, FVTPL giảm 29,3 tỷ đã kéo lợi nhuận trước thuế xuống.
Chín tháng, lợi nhuận trước thuế giảm 11,4 tỷ (từ 139,9 xuống 128,5 tỷ). Chi phí tài chính tăng từ 21,8 lên 143,0 tỷ và chi phí quản lý từ 65,1 lên 102,5 tỷ, trong khi lãi HTM tăng từ 29,2 lên 117,5 tỷ, lãi cho vay từ 135,8 lên 212,3 tỷ và lãi FVTPL giảm từ 95,2 xuống 43,7 tỷ.
Môi giới và thị phần

Môi giới của Chứng khoán Agribank là 14,9 tỷ đồng quý III và 79,2 tỷ bốn quý, bằng 13,7% doanh thu bốn quý, so với trung vị nhóm 12,4%. Tỷ trọng này cao thứ tư trong chín công ty, sau BVS (32,4%), VDS (21,7%) và DSC (14,8%).
Trên HOSE, mười công ty đứng đầu quý III/2026 nắm 64,86% thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ, và AGR không nằm trong số đó. Công ty xếp thứ mười là VPBankS với 2,81%, nên thị phần của AGR thấp hơn mức này; HOSE chỉ công bố mười công ty đầu.

Doanh thu môi giới quý III giảm 57,8% (14,9 tỷ so với 35,2 tỷ) trong khi khối lượng khớp bình quân mỗi phiên của HOSE giảm 52,8% (671 triệu so với 1.420 triệu cổ phiếu). Chi phí môi giới 6,2 tỷ bằng 41,9% doanh thu môi giới, nên môi giới ròng dương 8,6 tỷ.
Chín tháng, doanh thu môi giới là 56,2 tỷ, giảm 18,3% so với 68,8 tỷ. Quý III/2025 là quý đỉnh của cả nhóm khi khối lượng toàn sàn lên 1.420 triệu cổ phiếu mỗi phiên, nên mức giảm quý này chủ yếu là hiệu ứng nền.
Cho vay ký quỹ

Dư nợ cho vay của Chứng khoán Agribank (ký quỹ và ứng trước tiền bán chứng khoán) cuối quý III là 3.210,8 tỷ đồng, tăng 7,5% so với quý II (2.988,0 tỷ), 31,5% so với cuối 2025 (2.441,2 tỷ) và 54,7% so với cùng kỳ (2.075,9 tỷ).
Dư nợ bằng 121,1% vốn chủ, so với 136,5% của trung vị nhóm và đứng thứ bảy trong chín công ty. Lãi cho vay quý III là 80,0 tỷ, tăng 60,2% so với 49,9 tỷ, ứng với lợi suất bình quân khoảng 10,3% một năm trên dư nợ bình quân.
Lãi cho vay bằng 1,27 lần chi phí tài chính quý III, so với 4,7 lần cùng kỳ. Dòng dự phòng, xử lý tổn thất của khoản cho vay bằng 0 ở cả ba quý 2026, sau hai quý hoàn nhập 5,0 tỷ (quý III và quý IV/2025).
Tự doanh và danh mục

Danh mục tự doanh của Chứng khoán Agribank cuối quý III là 2.609,9 tỷ đồng, bằng 98,4% vốn chủ, gồm:
- HTM 2.105,5 tỷ, tăng 26,8% so với quý II (1.660,5 tỷ) và gấp 2,3 lần cuối 2025 (925,8 tỷ).
- FVTPL 464,4 tỷ, tăng 12,4% so với quý II (413,1 tỷ) và gấp 31 lần cuối 2025 (15,1 tỷ).
- AFS 40,0 tỷ, giảm từ 138,1 tỷ quý II.
Cuối 2025 danh mục là 1.290,4 tỷ, nên trong ba quý đã gấp 2,0 lần. Cùng kỳ vay ngắn hạn tăng 2.015,7 tỷ, trong khi dư nợ cho vay tăng 769,7 tỷ và danh mục tăng 1.319,5 tỷ.
Lãi HTM quý III là 50,3 tỷ, ứng với lợi suất bình quân khoảng 10,7% một năm trên số dư HTM bình quân, cao hơn lãi vay bình quân 7,3% một năm. Lãi FVTPL là 14,4 tỷ (lãi bán 13,6 tỷ), lỗ FVTPL chỉ 0,3 tỷ, so với lãi 40,1 tỷ và lỗ 8,4 tỷ quý III/2025.
Tính bốn quý, tự doanh chiếm 33,7% doanh thu, thấp hơn trung vị nhóm 40,6%; cao nhất nhóm là TVS (76,6%) và thấp nhất là BVS (19,0%).
Rủi ro lớn nhất: chi phí vay

Vay ngắn hạn của Chứng khoán Agribank cuối quý III là 3.721,7 tỷ đồng, bằng 140,4% vốn chủ, so với 119,9% quý II, 66,4% cuối 2025 và 50,7% cùng kỳ. Công ty không có trái phiếu phát hành; vay tăng 17,8% trong một quý và 118,2% từ đầu năm.
Chi phí tài chính quý III là 62,9 tỷ, bằng 37,1% doanh thu và 176,1% lợi nhuận trước thuế. Lãi vay bình quân khoảng 7,3% một năm; mỗi 1% tăng thêm, tính trên 3.722 tỷ, là khoảng 37 tỷ đồng một năm, bằng 22,6% lợi nhuận trước thuế bốn quý (165,0 tỷ).
Tài sản bằng 2,45 lần vốn chủ, so với 1,54 lần cùng kỳ và 2,87 lần của trung vị nhóm. Vay nợ bằng 140,4% vốn chủ, so với 183,2% của trung vị.
Ngày 02/11/2026, Hội đồng quản trị phê duyệt hạn mức tín dụng 600 tỷ đồng tại Công ty Tài chính tín dụng tiêu dùng TNHH MB Shinsei (Mcredit), trong đó tín chấp tối đa 200 tỷ, phần còn lại đảm bảo 100% bằng tài sản. Hạn mức có thời hạn 12 tháng, mỗi khoản vay tối đa 6 tháng, dùng bổ sung vốn lưu động cho đầu tư, kinh doanh trái phiếu Chính phủ.
Hạn mức bằng 16,1% vay ngắn hạn hiện tại. Toàn bộ nguồn vốn vay là ngắn hạn, nên lợi nhuận các quý tới phụ thuộc vào chênh lệch giữa lãi vay 7,3% và lợi suất 10,3% đến 10,7% của dư nợ margin và HTM.
Thanh khoản và biến động giá

Giá trị khớp bình quân mỗi phiên của cổ phiếu Chứng khoán Agribank là 2,5 tỷ đồng trong tháng 10/2026, so với đỉnh 26,6 tỷ tháng 01/2026. Bình quân 20 phiên gần nhất là 2,6 tỷ, tương ứng khoảng 0,23 triệu cổ phiếu mỗi phiên, thấp so với vốn hoá 2.856 tỷ.
Hai phiên 02/07 và 03/07, giá tăng 7,0% từ 14.100 lên 15.090 đồng, phiên 03/07 khớp 3,22 triệu cổ phiếu, gấp 9,7 lần bình quân 60 phiên trước. Từ 15.090 đồng (07/07) xuống 11.560 đồng (27/07), giá giảm 23,4% trong 14 phiên, trong khi VN-Index giảm 9,7%.
Mức giảm lớn hơn VN-Index 2,4 lần trong chưa đầy ba tuần là điểm người đọc cần lưu ý; bài không có dữ kiện để gán nguyên nhân cho nhịp này. Từ đáy đóng cửa 10.610 đồng ngày 08/10/2026, giá hồi 11,2% lên 11.800 đồng và vẫn thấp hơn đỉnh đóng cửa 52 tuần (17.080 đồng, 14/01/2026) 30,9%.
Cổ đông, vốn điều lệ và cổ tức

Cổ đông lớn nhất của Chứng khoán Agribank là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), nắm 74,92% (171,06 triệu cổ phiếu) theo danh sách cập nhật 08/09/2026, trước đợt phát hành cổ phiếu cổ tức 6%. Nhà đầu tư nước ngoài nắm 0,30% vốn.

Vốn điều lệ tăng từ 2.283 lên 2.420 tỷ đồng sau khi AGR phát hành 13,69 triệu cổ phiếu trả cổ tức năm 2025 tỷ lệ 6% (ngày không hưởng quyền 09/10/2026). Trước đó công ty cũng trả cổ tức 6% bằng cổ phiếu (tỷ lệ 100:6, ngày không hưởng quyền 02/06/2025).
Đại hội cổ đông 29/04/2026 đặt kế hoạch cổ tức năm 2026 là 7%. Công ty từng trả cổ tức tiền mặt 600 đồng một cổ phiếu (ngày không hưởng quyền 04/10/2023) và 700 đồng (02/10/2024), rồi chuyển sang cổ tức cổ phiếu. Giá 11.800 đồng cao hơn BVPS 7,7%.
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 05/11/2026
Ứng dụng HODL
Tải app HODL
Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.