RTT là gì trong chứng khoán

Triều Tô12 phút đọc
Nội dung bài11 phần
  1. RTT là gì và viết tắt của gì?
  2. Vì sao RTT quan trọng?
  3. Hai cách tính RTT đang dùng
  4. Cùng một tài khoản, ba con số
  5. Giá giảm bao nhiêu thì chạm mốc?
  6. Mốc call margin và bán giải chấp
  7. RTT và thị trường chung
  8. Luật nói gì về tỷ lệ ký quỹ?
  9. Điều gì làm RTT đổi ngoài giá?
  10. Những sai lầm hay gặp
  11. Câu hỏi thường gặp

RTT là gì trong chứng khoán? Đó là Rtt, tức tỷ lệ ký quỹ thực tế: con số cho biết tài khoản margin của bạn đang an toàn đến đâu so với khoản vay tại công ty chứng khoán. Con số này giảm khi giá cổ phiếu giảm, và khi nó chạm các mốc trong hợp đồng, bạn bị gọi bổ sung tài sản hoặc bị bán giải chấp.

Điểm chính

  • RTT không phải một công thức duy nhất. Có hai cách tính phổ biến cho ra thang đo khác hẳn nhau, nên con số của công ty này không so được với công ty khác.
  • Luật chỉ đặt khung (hợp đồng, gọi bổ sung, quyền bán tài sản bảo đảm). Mốc cụ thể như cảnh báo, xử lý do từng công ty tự quy định trong hợp đồng.
  • Biết công thức của chính công ty bạn dùng, rồi tính ngược mức giá làm tài khoản chạm mốc, hữu ích hơn nhớ một con số RTT "chuẩn".

RTT là gì và viết tắt của gì?

Rtt là cách viết tắt trong tiếng Việt của tỷ lệ ký quỹ thực tế. Chữ "thực tế" nghĩa là tỷ lệ này được tính lại theo giá và số dư hiện tại của tài khoản, khác với tỷ lệ ký quỹ ban đầu là mức bạn phải đáp ứng khi mở vị thế vay.

Một số bài trên mạng giải thích RTT là Round Trip Time. Đó là cách hiểu sai trong chứng khoán: Round Trip Time là thuật ngữ mạng máy tính chỉ thời gian khứ hồi của gói dữ liệu, không liên quan đến margin. Trong bài này, RTT luôn là tỷ lệ ký quỹ thực tế của tài khoản giao dịch ký quỹ.

Trong hợp đồng và ứng dụng của các công ty chứng khoán, RTT thường đi cùng vài ký hiệu khác. Rat là tỷ lệ an toàn, Rdt là tỷ lệ duy trì, Rxl là tỷ lệ xử lý. Tên gọi và cách dùng không thống nhất, nên luôn đọc phần giải thích trong hợp đồng của bạn.

Vì sao RTT quan trọng?

Mua cổ phiếu bằng tiền vay khuếch đại cả lãi lẫn lỗ. Khoản vay thì cố định, còn giá cổ phiếu thì đổi mỗi phiên. RTT là thước đo duy nhất gom hai thứ đó lại: nó cho biết phần "đệm" còn lại giữa giá trị tài sản bảo đảm và khoản nợ.

Công ty chứng khoán không đo tài khoản bằng cảm giác của bạn. Họ đo bằng RTT, cuối ngày hoặc theo chu kỳ quét. Con số này quyết định bạn còn được vay thêm không, có phải nộp thêm không, và khi nào cổ phiếu bị bán. Với người dùng margin, RTT là chỉ số sống còn tương tự nhiệt độ của động cơ.

Hai cách tính RTT đang dùng

Minh họa RTT: cùng một tài khoản, hai cách tính cho hai con số khác nhau

Đây là điểm khiến người mới dễ nhầm nhất. Trên thực tế đang có hai thang đo cùng được gọi là RTT hoặc "tỷ lệ ký quỹ".

Cách 1: tỷ lệ phần vốn của bạn trong tài sản. Công thức:

r1=Giá trị tài sản−Dư nợGiá trị tài sảnr_1 = \dfrac{\text{Giá trị tài sản} - \text{Dư nợ}}{\text{Giá trị tài sản}}

Thang đo chạy từ 0 đến 100%. Chưa vay đồng nào thì $r_1 = 100\%$. Khi cổ phiếu giảm, $r_1$ giảm nhanh vì dư nợ giữ nguyên. Mốc duy trì thường nằm khoảng 30% đến 40%. Cách này khớp với tên "tỷ lệ ký quỹ" trong quy định: phần ký quỹ là vốn tự có của nhà đầu tư. Bài tỷ lệ ký quỹ phân tích kỹ cách này.

Cách 2: độ phủ của tài sản bảo đảm so với nợ. Công thức hay gặp:

r2=Tài sản bảo đảm quy đổiDư nợ−Tiền−Tiền bán chờ vềr_2 = \dfrac{\text{Tài sản bảo đảm quy đổi}}{\text{Dư nợ} - \text{Tiền} - \text{Tiền bán chờ về}}

Trong đó tài sản bảo đảm quy đổi là tổng, theo từng mã, của số lượng nhân giá nhân tỷ lệ cho vay của mã đó. Thang đo quanh 100%: từ 100% trở lên là an toàn, và các mốc cảnh báo, xử lý thường nằm trong khoảng 80% đến 100%.

Hai thang này không so được với nhau. Muốn xem một công ty cụ thể áp dụng cách nào, đọc ví dụ Rtt của TCBS. "RTT 80%" theo cách 2 là tình huống gần xử lý. "Tỷ lệ ký quỹ 80%" theo cách 1 là tài khoản rất an toàn, gần như chưa vay. Ngay trong cùng một website, đã có nơi dùng cả hai thang cho hai bài khác nhau. Một công ty còn ghi rõ công thức của mình không hoàn toàn giống công thức trong Thông tư 120/2020/TT-BTC, tức đây là quy ước nội bộ của công ty, không phải công thức do luật ấn định.

Cùng một tài khoản, ba con số

Ví dụ giả định để thấy sự khác nhau. Tài khoản có:

Khoản mục

Giá trị

Mã X: 10.000 cổ phiếu, giá 50.000 đồng

500 triệu đồng (tỷ lệ cho vay 50%)

Mã Y: 5.000 cổ phiếu, giá 40.000 đồng

200 triệu đồng (tỷ lệ cho vay 30%)

Tiền mặt

20 triệu đồng

Tiền bán cổ phiếu chờ về

30 triệu đồng

Dư nợ (đã gồm lãi cho đơn giản)

400 triệu đồng

Số trên là giả định minh hoạ, không phải số của công ty nào. Tính theo từng cách:

Cách tính

Phép tính

Kết quả

Cách 1, chỉ tính cổ phiếu

(700 − 400) / 700

42,86%

Cách 1, tính cả tiền và tiền chờ về

(750 − 400) / 750

46,67%

Cách 2

(500×50% + 200×30%) / (400 − 20 − 30) = 310 / 350

88,57%

Cùng một tài khoản cho ba con số, từ 42,86% đến 88,57%. Hiểu sai nếu đem 88,57% so với mốc 35%, hoặc đem 42,86% so với mốc 87%.

Giá giảm bao nhiêu thì chạm mốc?

Giả sử cả hai mã cùng giảm 10%, dư nợ và tiền không đổi:

Cách tính

RTT sau khi giảm 10%

Cách 1, chỉ cổ phiếu

(630 − 400) / 630 = 36,51%

Cách 1, có tiền và tiền chờ về

(680 − 400) / 680 = 41,18%

Cách 2

(450×50% + 180×30%) / 350 = 279 / 350 = 79,71%

Cách 2 nhạy hơn nhiều vì tử số nhân tỷ lệ cho vay, nên mức giảm giá cổ phiếu bị "nhân" lên khi nhìn vào tài sản bảo đảm.

Tính ngược cho tài khoản này, nếu hợp đồng đặt mốc xử lý theo cách 2 là 80%, giá hai mã chỉ cần giảm khoảng 9,7%. Nếu hợp đồng theo cách 1 đặt mốc duy trì 35% (chỉ tính cổ phiếu), giá phải giảm khoảng 12,1% mới chạm. Hai mốc là quy ước riêng, không nói công ty nào "xử lý sớm hơn". Nhưng bài học chung rất rõ: đừng chỉ nhìn con số RTT, hãy tính mức giá chạm mốc theo công thức của chính hợp đồng bạn.

Mốc call margin và bán giải chấp

Minh họa RTT: ba mốc an toàn, call margin và giải chấp

Mỗi hợp đồng thường có ba mốc, tên gọi hơi khác nhau giữa các công ty:

  • Mốc an toàn hoặc ban đầu: nếu RTT từ mốc này trở lên, tài khoản được vay thêm, rút tiền thoải mái.
  • Mốc duy trì (cảnh báo): xuống dưới mốc này là bị call margin, tức gọi bổ sung ký quỹ.
  • Mốc xử lý: xuống dưới nữa, công ty có quyền bán cổ phiếu bảo đảm. Đây là bán giải chấp (force sell).

Với tài khoản dùng cách 2, ví dụ thường thấy là an toàn từ 100%, cảnh báo trong khoảng 80% đến 87% hoặc 85%, xử lý dưới 80%. Một ví dụ cụ thể theo trang chính sách của một công ty: TCBS dùng cách 2 với các mốc 100%, 85% và 80%. Cách tính, ba trường hợp bị bán và mức giá chạm mốc được phân tích trong bài khi nào bị call margin TCBS. Với cách 1, ví dụ thường thấy là duy trì quanh 35% đến 40%, xử lý quanh 25% đến 30%. Đây chỉ là các mức thường gặp để hiểu mặt bằng. Mức thật nằm trong hợp đồng của bạn và có thể được công ty điều chỉnh theo từng thời điểm, từng mã, từng nhóm khách hàng.

Về thời hạn bổ sung, quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ do cơ quan quản lý ban hành (Quyết định 87/QĐ-UBCK năm 2017, đã sửa đổi) đặt thời hạn bổ sung tối đa ba ngày làm việc, và cụ thể do công ty thoả thuận với khách. Có công ty đặt thời hạn ngắn hơn. Nếu RTT đã xuống dưới mốc xử lý, một số công ty cho phép bán ngay vào phiên kế tiếp, không chờ hết thời hạn. Đừng mặc định mình luôn có ba ngày.

RTT và thị trường chung

Minh họa RTT: vòng xoáy bán giải chấp hàng loạt

Khi nhiều tài khoản cùng ở gần mốc xử lý, một đợt giảm giá có thể kích hoạt call margin hàng loạt. Công ty bán ép cổ phiếu bảo đảm, giá giảm thêm, tài khoản khác lại chạm mốc. Đây là vòng xoáy giải chấp, một trong những cơ chế khuếch đại biến động của thị trường có đòn bẩy cao. Tổng dư nợ vay ký quỹ toàn thị trường vì thế được theo dõi sát, xem dư nợ margin toàn thị trường.

Với nhà đầu tư cá nhân, bài học thực tế là tự đặt giới hạn chặt hơn mốc của công ty: không vay sát tối đa, giữ đủ tiền mặt để nộp, tính sẵn mức giá chạm mốc cho từng vị thế.

Luật nói gì về tỷ lệ ký quỹ?

Điều 9 Thông tư 120/2020/TT-BTC quy định về giao dịch ký quỹ. Các ý chính:

  • Nhà đầu tư và công ty phải ký hợp đồng giao dịch ký quỹ, trong đó có tài sản bảo đảm, thời hạn bổ sung, cách xử lý khi không bổ sung.
  • Nhà đầu tư phải đảm bảo tỷ lệ ký quỹ ban đầu và tỷ lệ ký quỹ duy trì theo hợp đồng đã ký. Tỷ lệ xuống dưới mức duy trì thì công ty phát lệnh gọi ký quỹ bổ sung.
  • Không bổ sung thì công ty có quyền bán tài sản bảo đảm theo hợp đồng, sau khi công bố thông tin và thông báo.
  • Chứng khoán không thuộc danh sách được ký quỹ không được tính vào tài sản bảo đảm.
  • Nhà đầu tư nước ngoài không được giao dịch ký quỹ.

Thông tư không ấn định con số phần trăm hay công thức RTT. Các con số sàn nằm ở quy chế hướng dẫn: tỷ lệ ký quỹ ban đầu không thấp hơn 50%, tỷ lệ duy trì không thấp hơn 30%, và công ty đặt mức cụ thể trên sàn đó. Trước khi dựa vào các con số này, hãy đối chiếu văn bản hiện hành, vì quy định có thể được sửa đổi.

Điều gì làm RTT đổi ngoài giá?

Giá cổ phiếu không phải lý do duy nhất. RTT còn đổi vì:

  • Lãi vay cộng dồn. Dư nợ tăng theo ngày. Có công ty tính lãi theo năm 360 ngày, có nơi 365 ngày. Hợp đồng vay kèm thời hạn, quá hạn mà không trả hoặc gia hạn cũng bị xử lý. Xem thêm lãi vay margin.
  • Mã bị cắt khỏi danh sách margin. Sở giao dịch công bố danh sách mã được và không được ký quỹ theo định kỳ. Mã bị loại không còn tính vào tài sản bảo đảm, nên RTT có thể tụt dù giá đứng yên. Mã đó vẫn là tài sản bảo đảm cho khoản vay cũ nhưng không tính vào tài sản thực có để vay mới.
  • Tỷ lệ cho vay theo mã đổi. Công ty điều chỉnh tỷ lệ cho vay của từng mã theo rủi ro. Tỷ lệ giảm thì tử số của cách 2 giảm theo.
  • Quyền chờ thực hiện. Quyền mua, cổ tức, cổ phiếu thưởng chưa về thường có hệ số riêng, nhiều khi bằng 0 khi tính tài sản bảo đảm.
  • Tiền bán chờ về. Tiền bán cổ phiếu chưa về tài khoản có thể được tính hoặc không, tuỳ công ty. Kiểm tra trong hợp đồng.

Những sai lầm hay gặp

  • Nhầm RTT với Round Trip Time. Chỉ là lỗi lan truyền từ một số trang giải thích sai.
  • So RTT giữa hai công ty. Hai thang khác nhau cho kết quả khác hẳn. So từng con số là vô nghĩa.
  • Nhầm tỷ lệ ký quỹ với tỷ lệ vay. Tỷ lệ ký quỹ ban đầu 50% nghĩa là bạn tự có ít nhất 50% giá trị mua. Tỷ lệ cho vay theo mã 50% nghĩa là tài sản bảo đảm chỉ tính 50% giá cổ phiếu. Hai đại lượng khác nhau.
  • Quên lãi và phí. Dư nợ tăng mỗi ngày, RTT giảm dần dù giá đứng yên.
  • Tưởng còn ba ngày. Ba ngày làm việc là mức tối đa trong quy chế, nhiều công ty ngắn hơn, và dưới mốc xử lý thì có thể bán sớm.
  • Dùng thêm margin để gỡ lỗ. Sau một lần bán giải chấp, vay thêm để mua lại thường nhân rủi ro lên, vì RTT đã mất đệm.

Câu hỏi thường gặp

RTT là gì trong chứng khoán?

RTT là tỷ lệ ký quỹ thực tế của tài khoản giao dịch ký quỹ, tính lại theo giá và dư nợ hiện tại. Công ty chứng khoán dùng nó để quyết định gọi bổ sung ký quỹ và bán giải chấp.

RTT bao nhiêu thì bị call margin?

Tuỳ hợp đồng và tuỳ cách tính của công ty. Cách tính theo tỷ lệ vốn tự có thường có mốc duy trì quanh 30% đến 40%. Cách tính theo độ phủ tài sản bảo đảm thường có mốc cảnh báo quanh 80% đến 100%. Xem mốc trong hợp đồng của bạn.

Công thức tính RTT như thế nào?

Có hai công thức phổ biến. Một là (giá trị tài sản trừ dư nợ) chia giá trị tài sản. Hai là tài sản bảo đảm quy đổi theo tỷ lệ cho vay chia cho dư nợ sau khi trừ tiền và tiền chờ về. Hãy hỏi công ty bạn dùng công thức nào.

RTT khác tỷ lệ ký quỹ ở đâu?

Tỷ lệ ký quỹ là tên chung của khái niệm. RTT là tỷ lệ ký quỹ thực tế, tính theo trạng thái tài khoản ở thời điểm hiện tại, để so với các mốc ban đầu, duy trì, xử lý trong hợp đồng.

Bị call margin có bao nhiêu ngày để bổ sung?

Quy chế đặt tối đa ba ngày làm việc, cụ thể do công ty và khách thoả thuận. Có công ty ngắn hơn, và nếu RTT xuống dưới mốc xử lý thì có thể bị bán sớm. Đọc điều khoản trong hợp đồng.

Học tiếp: call margin và giải chấp, ký quỹ margin và khi nào bị call margin TCBS.

RTT

Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 31/10/2026

Ứng dụng HODL

Tải app HODL

Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.

Watchlist

Đang tải…