Năng suất lao động là gì

Triều Tô5 phút đọc
Nội dung bài8 phần
  1. Công thức năng suất lao động
  2. Năng suất lao động Việt Nam
  3. Nguồn tăng năng suất lao động
  4. Ví dụ doanh nghiệp giả định
  5. Năng suất và cổ phiếu Việt Nam
  6. Giới hạn của chỉ số
  7. Bài liên quan
  8. Câu hỏi thường gặp

Năng suất lao động là gì? Đó là giá trị mà một lao động làm ra trong một đơn vị thời gian, thường là một năm hoặc một giờ. Cùng số người đi làm, nền kinh tế nào làm ra nhiều giá trị hơn thì năng suất cao hơn. Đây là nguồn của mức sống tăng bền vững, khác với tăng trưởng nhờ thêm người hoặc thêm vốn.

Điểm chính

  • Năng suất lao động bằng sản lượng chia cho số lao động hoặc số giờ làm. Tốc độ tăng năng suất xấp xỉ bằng tốc độ tăng sản lượng trừ tốc độ tăng lao động.
  • Năng suất tăng khi mỗi lao động có thêm vốn, kỹ năng, công nghệ, hoặc khi lao động chuyển sang ngành tạo giá trị cao hơn.
  • Với doanh nghiệp, doanh thu trên mỗi lao động cho biết tăng trưởng đến từ làm hiệu quả hơn hay chỉ từ tuyển thêm người.

Công thức năng suất lao động

Công thức cơ bản:

Năng suất lao động=Sản lượng (GDP hoặc giá trị gia tăng)Số lao động hoặc số giờ làm\text{Năng suất lao động} = \dfrac{\text{Sản lượng (GDP hoặc giá trị gia tăng)}}{\text{Số lao động hoặc số giờ làm}}

Muốn so các năm với nhau, tử số phải tính theo giá so sánh để loại ảnh hưởng của giá. Nếu dùng giá hiện hành, năng suất trông tăng cả khi sản lượng thật không đổi.

Chia theo số lao động thì dễ tính nhưng bỏ qua chuyện làm ít giờ hay nhiều giờ. Chia theo số giờ làm thì chính xác hơn, nhưng cần dữ liệu giờ làm mà nước nào cũng chưa đủ.

Có phép tính nhanh cho tốc độ tăng. Sản lượng tăng 7% và lao động tăng 1% thì năng suất tăng xấp xỉ 6%. Phép chính xác là 1,07 chia 1,01 rồi trừ 1.

Năng suất lao động Việt Nam

Dữ liệu đến năm 2025. Sản lượng ở đây là tiêu dùng cuối cùng, tích luỹ tài sản và xuất khẩu trừ nhập khẩu, theo giá so sánh năm 2010. Tổng này chưa gồm sai số thống kê nên lệch nhẹ so với GDP công bố. Số lao động là bình quân bốn quý của số người có việc làm.

Minh họa Năng suất lao động: cảnh cơ quan điều hành kinh tế vĩ mô

Chỉ tiêu

Năm 2024

Năm 2025

Thay đổi

Sản lượng (nghìn tỷ đồng, giá 2010)

6.209,4

6.673,1

+7,47%

Số người có việc làm (triệu người)

51,63

52,22

+1,13%

Năng suất (triệu đồng mỗi người)

120,3

127,8

+6,27%

Sản lượng tăng 7,47% trong khi số người làm việc chỉ tăng 1,13%. Phần lớn tăng trưởng vì vậy đến từ năng suất, một dạng ổn định hơn kiểu thêm người.

Nhìn dài hơn, năng suất năm 2019 là 88,8 triệu đồng mỗi người, đến năm 2025 là 127,8. Mức này tăng 43,90% sau sáu năm. Giai đoạn đó gồm 2020 và 2021, khi dịch bệnh làm số người có việc làm giảm nên mẫu số thấp bất thường.

Nguồn tăng năng suất lao động

Có bốn nguồn chính:

  • Vốn trên mỗi lao động: máy móc, nhà xưởng, hạ tầng tốt hơn giúp mỗi người làm ra nhiều hơn.
  • Kỹ năng: đào tạo và kinh nghiệm nâng chất lượng lao động.
  • Công nghệ và tổ chức: tự động hoá, phần mềm, quy trình gọn hơn.
  • Chuyển dịch cơ cấu: lao động rời ngành năng suất thấp sang ngành năng suất cao.

Nguồn thứ tư rất đáng chú ý ở nước đang phát triển. Một lao động chuyển từ nông nghiệp sang chế biến chế tạo làm năng suất chung tăng dù người đó chưa học thêm gì.

Ví dụ doanh nghiệp giả định

Đây là ví dụ giả định, không phải số của doanh nghiệp nào. Công ty A có doanh thu 1.200 tỷ đồng với 2.000 nhân viên. Năm sau doanh thu tăng 10%, nhân viên tăng 3%.

Minh họa Năng suất lao động: cảnh cơ quan điều hành kinh tế vĩ mô

Chỉ tiêu

Năm đầu

Năm sau

Thay đổi

Doanh thu (tỷ đồng)

1.200

1.320

+10,00%

Nhân viên (người)

2.000

2.060

+3,00%

Doanh thu mỗi nhân viên (triệu đồng)

600,0

640,8

+6,80%

Doanh thu mỗi nhân viên tăng 6,80%. Nếu quỹ lương tăng chậm hơn doanh thu, biên lợi nhuận có dư địa cải thiện. Chiều ngược lại cũng đúng: doanh thu đi ngang mà tuyển thêm người thì năng suất giảm.

Năng suất và cổ phiếu Việt Nam

Nhà đầu tư cổ phiếu nên quan tâm vì hai lý do. Thứ nhất, khi dân số già đi, tăng trưởng GDP khó dựa mãi vào thêm lao động, nên năng suất quyết định tốc độ dài hạn. Thứ hai, so doanh thu và lợi nhuận mỗi nhân viên giữa các công ty cùng ngành là cách nhanh để thấy công ty nào vận hành hiệu quả hơn.

Minh họa Năng suất lao động: cảnh cơ quan điều hành kinh tế vĩ mô

Giới hạn của chỉ số

Thứ nhất, năng suất bình quân che giấu chênh lệch giữa ngành, vùng và loại hình doanh nghiệp.

Thứ hai, chỉ số theo đầu người không tính giờ làm. Người làm ít giờ có thể trông kém hiệu quả dù mỗi giờ làm ra nhiều.

Thứ ba, doanh thu mỗi nhân viên phụ thuộc mô hình. Công ty thuê ngoài nhiều khâu có chỉ số cao hơn công ty tự làm hết, dù hiệu quả thực không khác.

Bài liên quan

Năng suất là một phần của câu chuyện tăng trưởng, đọc cùng bài GDP là gì và tăng trưởng bền vững. Hiệu quả của vốn đầu tư xem ở bài CAPEX chi đầu tư tài sản. Ví dụ trong bài chỉ để minh hoạ, không phải khuyến nghị đầu tư.

Câu hỏi thường gặp

Năng suất lao động khác sản lượng ở chỗ nào?

Sản lượng là tổng giá trị làm ra. Năng suất là giá trị đó chia cho lao động, nên cho biết mỗi người làm ra bao nhiêu.

Năng suất tăng có làm lương tăng không?

Về dài hạn, năng suất tăng tạo dư địa tăng lương thực. Trong ngắn hạn, lương còn phụ thuộc cung cầu lao động và cách chia phần giữa lao động với chủ vốn.

Năng suất lao động khác năng suất các nhân tố tổng hợp ra sao?

Năng suất lao động mang cả ảnh hưởng của việc có thêm vốn. Năng suất các nhân tố tổng hợp tách phần tăng trưởng không giải thích được bằng vốn và lao động, thường gắn với công nghệ và quản trị.

Doanh thu mỗi nhân viên cao có phải là tốt không?

Chưa chắc. Cần so với doanh nghiệp cùng ngành và cùng mô hình, đồng thời xem lợi nhuận mỗi nhân viên, vì doanh thu cao nhưng biên mỏng thì lợi nhuận vẫn thấp.

Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 31/12/2025

Ứng dụng HODL

Tải app HODL

Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.

Watchlist

Đang tải…