Lý thuyết DOW | CHƯƠNG V | Cách đọc vị thị trường
CHƯƠNG V.
Cách đọc vị thị trường.
Một độc giả hỏi: "Có cách nào để dự đoán diễn biến của thị trường từ băng ghi các giao dịch, từ lịch sử giao dịch cá nhân, hoặc từ sự tóm tắt của dao động giá không? Các giao dịch phải có ý nghĩa gì đó, nhưng làm thế nào một nhà giao dịch có thể biết chúng có nghĩa là gì?"

Đây là một câu hỏi cũ. Đã có nhiều câu trả lời khác nhau nhưng nghi ngờ rằng liệu có bất kỳ câu trả lời nào hoàn toàn thỏa đáng. Tuy nhiên, có một số phương pháp đang được sử dụng thực tế và đôi khi đưa ra gợi ý.

Có một cách gọi là phương pháp ghi sổ. Giá được ghi lại khi tăng hoặc giảm một điểm, từ đó hình thành các đường có hướng chung là nằm ngang nhưng chạy theo đường chéo khi thị trường dao động tăng và giảm. Đôi khi có những lúc một cổ phiếu có hoạt động tốt sẽ ở trong một phạm vi hẹp của giá, giả sử hai điểm, cho đến khi hình thành một dòng ngang dài của các con số này. Sự hình thành của một dòng như vậy đôi khi cho thấy rằng nó đã được tích lũy hoặc phân phối, và điều này dẫn đến người khác mua hoặc bán cùng lúc. Các hồ sơ kiểu này được giữ trong mười lăm năm qua dường như ủng hộ lý thuyết rằng sự điều chỉnh cần thiết để nắm giữ cổ phiếu thường xuyên được phát hiện theo cách này. (Xem Lưu ý người dịch 4ND4.)
Một phương pháp khác là cái gọi là lý thuyết hai đỉnh. Hồ sơ giao dịch cho thấy rằng trong nhiều trường hợp khi một cổ phiếu đạt đỉnh, nó sẽ có một sự giảm nhẹ và sau đó quay lại gần mức giá cao nhất. Nếu sau một sự dao động như vậy, giá lại thoái lui, cổ phiếu có khả năng giảm giá thêm một khoảng nữa.
Tuy nhiên, những người cố gắng giao dịch dựa trên lý thuyết này một mình sẽ thấy có rất nhiều ngoại lệ và rất nhiều lần tín hiệu không xuất hiện.
Có những người giao dịch dựa trên lý thuyết trung bình. Đúng là trong một khoảng thời gian đáng kể, thị trường có số ngày tăng giá xấp xỉ bằng số ngày giảm giá. Nếu có một chuỗi ngày tăng giá, gần như chắc chắn sẽ có những ngày giảm giá cân bằng.
Vấn đề với hệ thống này là các dao động nhỏ luôn là một phần của các dao động lớn hơn, và trong khi xu hướng của các sự kiện có khả năng xảy ra ngang nhau luôn hướng tới sự cân bằng, cũng đúng là mọi sự kết hợp có thể xảy ra đều có khả năng xảy ra, và thường xuyên có các dao động dài, hoặc, trong trường hợp giao dịch cổ phiếu, một số ngày tăng hoặc giảm phi thường vừa vặn với lý thuyết khi được xem xét trong một quy mô dài, nhưng được tính toán để làm rối loạn bất kỳ hoạt động nào dựa trên kỳ vọng của một chuỗi dao động ngắn.
Một lý thuyết thực tiễn hơn nhiều là lý thuyết dựa trên quy tắc hành động và phản ứng. Có vẻ như là một thực tế rằng một chuyển động chính trong thị trường thường sẽ có một chuyển động thứ cấp theo hướng ngược lại ít nhất là ba phần tám của chuyển động chính. Nếu một cổ phiếu tăng mười điểm, rất có thể sẽ có một sự suy giảm bốn điểm hoặc hơn. Luật này dường như giữ vững bất kể sự tăng giá đi xa bao nhiêu. Một sự tăng giá hai mươi điểm sẽ không hiếm khi mang lại một sự suy giảm tám điểm hoặc hơn. (Xem Lưu ý người dịch 5ND5.)
Không thể nói trước được biên độ của bất kỳ chuyển động chính nào, nhưng biên độ càng lớn, phản ứng càng mạnh khi nó diễn ra, do đó càng chắc chắn hơn khả năng giao dịch thành công dựa trên phản ứng đó.
Một phương pháp được sử dụng bởi một số nhà giao dịch có kinh nghiệm lâu năm là phương pháp phản ứng. Lý thuyết liên quan là thế này: Thị trường luôn dưới sự thao túng ít nhiều. Một nhà giao dịch lớn đang tìm cách tăng giá thị trường không mua tất cả mọi cổ phiếu trong danh sách, nhưng đẩy giá tăng trên hai hoặc ba cổ phiếu hàng đầu bằng cách mua hợp pháp hoặc thao túng. (Xem Lưu ý 88.) Anh ta sau đó quan sát tác động lên các cổ phiếu khác. Nếu tâm lý thị trường lạc quan, và mọi người có xu hướng tham gia, những người thấy sự tăng giá ở hai hoặc ba cổ phiếu này ngay lập tức bắt đầu mua các cổ phiếu khác và thị trường tăng lên mức cao hơn. Đây là phản ứng của công chúng, và là một dấu hiệu rằng các cổ phiếu hàng đầu sẽ được đẩy lên một lần nữa và rằng thị trường chung sẽ theo sau.
Tuy nhiên, nếu các cổ phiếu hàng đầu tăng giá và các cổ phiếu khác không tăng theo, đó là bằng chứng rằng công chúng không có ý định mua. Ngay khi điều này rõ ràng, nỗ lực đánh lên thường được ngừng lại. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu bởi những người theo dõi băng ghi. Nhưng nó có thể được đọc vào cuối ngày trong hồ sơ giao dịch* bằng cách xem các cổ phiếu nào đã được đẩy lên trong các giờ cụ thể và liệu thị trường chung có theo sau hay không.
Lưu ý 8: - Khi điều này được viết, có thể một nhà giao dịch lớn nâng giá bằng cách đặt mua cho các lô lớn hơn số lượng được cung cấp; đó là, anh ta có thể đặt lệnh mua 5,000 cổ phiếu, khớp tất cả hoặc không (Lệnh AON). Đây có lẽ là loại thao túng được nhắc đến ở đây. Dưới các quy tắc hiện tại của Sở Giao dịch Chứng khoán, điều này không thể thực hiện được, vì người đặt mua phải chấp nhận bất kỳ khối lượng khớp nào (trong các lô cổ phiếu trăm) của số lượng cổ phiếu đặt mua. (Xem Lưu ý người dịch 6ND6.)
Một mức độ nhất định của sự thao túng vẫn còn có thể bằng cách mua mạnh một cổ phiếu cụ thể trong một thời gian rất ngắn, bất kể giá phải trả là bao nhiêu. Theo cách đó chỉ các lệnh "đang chờ" sẽ được kích hoạt và khớp, vì các nhà giao dịch khác không có thời gian để đặt lệnh bán mới cho đến khi động thái kết thúc, và sự tăng giá nhanh có thể không khuyến khích họ tiếp tục đặt lệnh bán.
Cách tốt nhất để đọc vị thị trường là đọc từ góc độ giá trị. Thị trường không giống như một quả bóng bay lắc lư trong gió. Nhìn chung, nó đại diện cho một nỗ lực nghiêm túc, được cân nhắc kỹ lưỡng của những người nhìn xa trông rộng và thông thạo để điều chỉnh giá cả đến các giá trị hiện tại hoặc dự kiến sẽ tồn tại trong tương lai không quá xa. Suy nghĩ của các nhà giao dịch lớn không phải là liệu giá có thể tăng hay không, mà là liệu giá trị của tài sản mà họ dự định mua có dẫn dắt các nhà đầu tư và đầu cơ trong sáu tháng sau đó chấp nhận mua cổ phiếu với giá cao hơn hiện tại từ mười đến hai mươi điểm hay không.
Do đó, khi đọc vị thị trường, điểm chính là khám phá xem một cổ phiếu có thể có giá trị bao nhiêu trong ba tháng sau đó và xem liệu các nhà thao túng hoặc nhà đầu tư có đang nâng giá cổ phiếu đó lên gần những con số đó hay không. Thường có thể đọc được các chuyển động trong thị trường rất rõ ràng theo cách này. Hiểu giá trị là để hiểu ý nghĩa của các chuyển động trong thị trường.
*Wall Street Journal, hoặc danh sách chính thức của Sở Giao dịch Chứng khoán.
Lưu ý người dịch 4:
Ở thời của ông Dow, người ta vẽ biểu đồ kỹ thuật bằng cách ghi giá vào sổ. Với trục OX là thời gian và trục OY là giá. Khi nối các điểm giá kết thúc một chu kỳ sẽ hình thành biểu đồ cơ bản nhất còn tồn tại tới ngày nay là Biểu đồ Line. Ông Dow xác định tích luỹ khi thấy giá liên tục dao động trong một khoảng và đi ngang trong một thời gian dài. Dưới đây là minh hoạ trên thị trường chứng Khoán Việt Nam với cổ phiếu TCL:

Cổ phiếu TCL có một đợt tích luỹ kéo dài 5 năm trong biên độ 3.000đ từ 17.500 - 20.500 đ/cp.
Vùng giá này theo quan điểm của Tôi là vùng giá thấp hơn giá trị thực tế của TCL xét theo giá trị ghi sổ, thu nhập trên mỗi cổ phần và tỷ suất cổ tức được chia:
- BVPS của TCL trong giai đoạn này trung bình ở ngưỡng 30.000đ/cp
- EPS trung bình của TCL trong giai đoạn này là 4.500đ/cp
- Tỷ lệ chia cổ tức tiền mặt cổ phiếu TCL trong giai đoạn này là 35% (3500đ/cp)
Vì vậy đây là vùng tích luỹ ở dưới giá trị nội tại của TCL dựa trên tình hình kinh doanh và chỉ số tài chính.
Ở vị trí 1 - 2 - 5: Là các vùng đỉnh của tích luỹ, và dường như có dấu hiệu tăng khối lượng mua. Nhưng sau đó, thị trường không hưởng ứng thông qua việc mua với giá cao hơn và khối lượng, việc thúc đẩy giá chấm dứt. Cuối cùng giá giảm lại biên dưới của vùng tích luỹ.
Ở vị trí 3 - 4: Là vùng đáy của tích luỹ, và dường như phe bán muốn đẩy giá xuống sâu hơn. Nhưng những người nắm giữ cổ phiếu không ủng hộ hành động này, phản ứng của họ là không tham gia bán ra các cổ phiếu đang nắm giữ, vì vậy hành động đẩy giá xuống thấp hơn dường như đã chấm dứt sau đó.
Trong giai đoạn này, chúng ta có thể cho rằng những người muốn nắm giữ cổ phiếu TCL nhiều hơn sẽ có những hành động khôn ngoan bằng cách mua vào với khối lượng nhiều hơn ở đáy vùng tích luỹ và bán ra với khối lượng ít hơn ở đỉnh vùng tích luỹ. Mục đích là giữ giá biến động trong biên độ này cho tới khi họ gom đủ lượng cổ phiếu cần thiết và nắm giữ.
Khi đã gom đủ cổ phiếu và không tiếp tục bán ra ở vùng đỉnh tích luỹ nữa. Trạng thái cân bằng ngay lập tức bị phá vỡ vì khi giá tiến tới kháng cự tích luỹ, phe mua ở đáy không thực hiện bán ra. Các nhu cầu mua ở đỉnh bị thiếu hụt nguồn cung, buộc họ phải thực hiện mua với giá cao hơn, và đó là thời điểm những người mua ở đáy vùng tích luỹ bắt đầu chốt lợi nhuận.
Lý do chính thanh khoản trong vùng tích luỹ này không cao là vì những người đầu cơ không muốn tác động ngay lập tức thay đổi cán cân Cung - Cầu trên thị trường gây sự chú ý của đám đông khiến họ không thể mua được lượng cổ phiếu cần thiết. Theo tôi, hành vi và kế hoạch này là hết sức khôn ngoan.
Lưu ý người dịch 5:
Trong phần này, Charles H. Dow đã làm rõ về mức giảm và tham chiếu để tính toán mức giảm.
Mức giảm giá sâu nhất để mua là 5/8 vì vậy đó có thể là vùng giá mua cuối cùng. Nếu tại vùng giá này, giá giảm sâu hơn 5 điểm (tạm coi là 5000đ) thì nhà đầu tư cần thực hiện biện pháp cắt lỗ. Lấy tham số bên trên thì giá mua sâu nhất được tính là 35.000 - (11.000 x 5)/8 = 28.125đ. Giá cắt lỗ nên thực hiện là 28.150 - 5.000đ = 23.150đ.
Tham chiếu được tính toán mức giảm là khoảng cách từ đỉnh - đáy gần nhất. Không phải tính từ mức 0 tới mức quan sát hiện tại.
Mức 3/8 tương ứng với thiết lập Fibo 0.375 (37.5%). Mức 5/8 tương mức với thiết lập Fibo 0.625 (62.5%)
Ví dụ: Thị giá cổ phiếu hiện tại là 35.000đ. Xu hướng trước đó là xu hướng tăng, và mức tăng là từ 24.000 tới 35.000đ thì biên độ tăng là 11.000đ. Vậy mức giảm 3/8 = 35.000 - (11.000 x 3)/8 = 30.875. Đây có thể là vùng giá để mua lô giao dịch đầu tiên theo kế hoạch.
Lưu ý người dịch 6:
Trong phần Lưu ý 8 với người mới có thể sẽ khó hiểu, vì vậy Tôi diễn giải thêm cho phần lưu ý.
Lệnh All or None - AON: Khớp tất cả hoặc không.
Lệnh AON là một lệnh kèm thời gian thời gian hiệu lực vì người giao dịch sẽ đưa chỉ thị cho bên môi giới về cách thực hiện lệnh này, và điều này ảnh hưởng đến thời gian tồn tại của lệnh.
Nếu lệnh AON không thể được thực hiện ngay lúc đặt lệnh thì nó vẫn sẽ tồn tại trong suốt phiên giao dịch cho đến khi nó được khớp toàn bộ khối lượng hoặc bị hủy. Vì vậy nó sẽ ngăn việc khớp một phần, điều này cực kì hữu ích khi thực hiện giao dịch trên những cổ phiếu ít thanh khoản. Ví dụ: Nếu bạn là người đầu tiên đặt mua 1000 cổ phiếu FRT giá 140.000đ thì bạn sẽ phải chờ có một nhà đầu tư khác bán cổ phiếu FRT với giá 140.000đ với khối lượng >=1000 cổ phiếu. Một nhà đầu tư bán cổ phiếu với giá 140.000đ nhưng chỉ bán 100 cổ phiếu sẽ không được khớp từng phần vào lệnh AON mà bạn thực hiện.
Quy định của các Sở giao dịch chứng khoán tại thời điểm đó không cho phép thực thi lệnh này mà nó sẽ được thực thi giống lệnh giới hạn ngày nay. Nghĩa là nếu bạn đặt mua 100.000 cổ phiếu FPT với giá 120.000đ theo lệnh LO, thì lệnh sẽ được khớp theo thứ tự. Và một người nếu có 100 cổ phiếu bán giá 120.000 vẫn sẽ khớp giao dịch với bạn, lúc này bạn sẽ còn lại 99.900 cổ phiếu chưa khớp.